TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Tuế lược

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Cycas pectinata
Đồng danh: Cycas circinalis var. pectinata (Buch. - Ham.) J. Schust., 1932
Đồng danh: Cycas jenkinsiana W. Griffith, 1854
Đồng danh: Cycas circinalis var. pectinata (Buch. - Ham.) J. Schust., 1932
Đồng danh: Cycas jenkinsiana W. Griffith, 1854
Tên khác: Tuế lược
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TUẾ LƯỢC

Cycas pectinata Buch. – Ham., 1829
Cycas circinalis var. pectinata (Buch. – Ham.) J. Schust., 1932
Cycas jenkinsiana W. Griffith, 1854
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân hoá gỗ, đơn hoặc phân cành, cao tới 2 – 12 m, đường kính 14 – 20 cm, vỏ nhẵn, màu xám trắng, mang 30 – 40 lá mọc thành vài vòng. Lá vảy (cataphylls) hình tam giác hẹp, mềm, có lông. Lá màu xanh sẫm tới xanh xám, bóng, dài 1,5 – 2,4 m, mang 180 – 312 lá chét giả (pinnae), có lông trắng, mọc đối nhau và đính với trục lá (rachis) tạo thành góc 170 – 180º; cuống lá dài 30 – 80 cm, nhẵn, có gai nhọn, phân phối từ 30 tới 80% chiều dài cuống, lá chét giả ở gốc trục dài 5 – 16 cm không tiêu giảm thành gai. Các lá chét giả ở phần giữa trục lá thường dài 20 – 31,5 cm, rộng 7,5 – 10,5 mm, đính vào trục với góc 40 – 60°, men theo trục 4 – 8 mm, gốc rộng 2,5 – 4 mm; lá chét mọc cách nhau 8 – 13 mm, phẳng, mép hơi uốn cong xuống mặt dưới, nhọn đầu, gân nổi rất rõ. Nón đực hình trứng, màu xanh hay vàng, dài 30 – 55 cm, đường kính 16 – 22 cm. Vẩy nhị cứng, không dày ở lưng, dài 43 – 60 mm, rộng 19 – 24 mm, phần hữu thụ (mang bao phấn) ở dưới, dài 35 – 57 mm, phần bất thụ (không mang bao phấn) ở trên, dài 3 – 8 mm có mũi nhọn cong, nhô cao, dài 17 – 32 mm. Nón cái hình cầu, đường kính 45 cm. Vảy noãn dài 22 – 30 cm, có lông mềm màu xám, mỗi vảy mang 2 – 4 noãn nhẵn; phiến vảy hình tròn, dài 11 – 18 cm, rộng 10 – 13 cm; mép xẻ sâu thành 40 – 50 thuỳ nhọn bên, mềm, dài 26 – 75 mm, rộng 2 – 3 mm, thuỳ nhọn đỉnh dài 35 – 75 mm, rộng 5 – 12 mm ở gốc. Hạt hình trứng, dài 42 – 45 mm, rộng 33 – 45 mm; vỏ hạt khi chín màu vàng, nhẵn, dày 4 – 7 mm, có sơ.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 4 – 5, khả năng tạo hạt tốt, hạt chín tháng 10 – 12 và tồn tại tới đầu năm sau. Tái sinh từ hạt và nảy chồi tốt. Cây trung sinh, chịu hạn và lửa rừng, mọc rải rác trong rừng thứ sinh cây lá rộng, nơi có nhiều ánh sáng, trên đất do nhiều loại đá mẹ như granít, đá phiến v.v. phong hoá ra, từ ven biển tới độ cao khoảng 1.000 m.
Phân bố:
Trong nước: Bình Định (An Nhơn), Khánh Hòa (Cam Ranh, Nha Trang, Ninh Hòa, Vạn Ninh), Phú Yên (Đông Hòa: Núi Đá Bia, Đèo Cả, Sông Cầu).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Loài quí, hiếm. Cây có dáng đẹp, trồng làm cảnh ở các công viên, biệt thự và đường phố và làm tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, học tập về tính đa dạng loài trong tự nhiên. Thân có thể dùng làm vị thuốc.
Tình trạng:
Tuế lược phân bố ở 7 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Loài này thường bị khai thác làm cảnh. Diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 20.000 km2, sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp, phát triển du lịch và khí hậu khô nóng của vùng Nam trung bộ.
Phân hạng: VU B1ab(i,iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 phần thực vật – trang 224.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae