TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tuế lược thuôn

Tên tiếng Anh: Elongata's cycas
Tên Latin: Cycas elongata
Đồng danh: Cycas elongata (Leandri) D. Y. Wang, 1996
Đồng danh: Epicycas elongata (Leandri) S.L. Yang et al., 1998
Đồng danh: Cycas pectinata var. elongata Leandri, 1931
Đồng danh: Epicycas elongata (Leandri) S.L. Yang et al., 1998
Tên khác: Tuế chân voi
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TUẾ LƯỢC THUÔN

Cycas elongata (Leandri) D. Y. Wang, 1996
Cycas pectinata var. elongata Leandri, 1931
Epicycas elongata (Leandri) S.L. Yang,1998
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân hoá gỗ, thẳng, cao tới 2 – 5m, đường kính 10 – 20cm, thường không phân cành hoặc đôi khi phân cành, vỏ nhẵn, nứt dọc, màu xám trắng, mang 30 – 60 lá mọc thành nhiều vòng ở đỉnh thân. Lá vảy (cataphylls) dài 60 – 90mm, xốp mềm, hình tam giác hẹp, có lông rải rác. Lá dài 90 – 140cm với từ 130 tới 240 lá chét giả (pinnae), mọc đối trên trục lá (rachis), tạo thành góc 90 – 150º, màu xanh sáng tới xanh đậm, bóng. Cuống lá dài 20 – 40cm, nhẵn, có gai nhọn nhỏ, phân phối từ 60 tới 100% chiều dài cuống. Các lá chét giả ở giữa trục lá thường dài 14 – 22cm, rộng 0,8 – 1,1cm, chiều dài phần đính vào trục dài 1 – 1,8cm với góc 50 – 60º; mép trơn, nhọn đầu. Nón đực hình trứng hẹp, thuôn về hai đầu, màu nâu xanh tới vàng, dài 25 – 35cm, đường kính 9 – 13cm. Vẩy nhị cứng không dày ở lưng, đỉnh có mũi nhọn ngắn nhô cao. Nón cái gồm nhiều vảy noãn xếp xít nhau tạo thành hình cầu ở tận cùng thân. Vảy noãn dài 20 – 27cm, có lông mềm màu xám hay nâu; mỗi vảy mang 2 – 6 noãn nhẵn, mép sâu thành 36 – 38 thuỳ nhọn bên, xốp mềm, dài 20 – 25mm, rộng 1 – 2mm, thuỳ nhọn đỉnh dài 30 – 55mm, rộng 4 – 5mm ở gốc. Hạt hình trứng, dài 40mm, rộng 30mm; vỏ hạt màu vàng khi chín, sơ và cứng.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 7 – 8, khả năng tạo hạt tốt, hạt chín tháng 12 và tồn tại tới đầu năm sau. Tái sinh từ hạt và nảy chồi tốt. Cây trung sinh, chịu hạn, lửa rừng và ưa sáng, mọc rải rác hay thành quần thể nhiều cá thể trong rừng hay trảng cây bụi thứ sinh thưa thường xanh hay nửa rụng lá, trên sườn đồi núi đất lẫn đá bị rửa trôi mạnh, là sản phẩm phong hoá của đá granít, ở độ cao từ ven biển tới 200 – 300 m.
Phân bố:
Trong nước: Bình Định (An Nhơn), Khánh Hòa (Cam Ranh, Nha Trang, Ninh Hòa, Vạn Ninh), Ninh Thuận (Bắc Ái, Ninh Hải, Thuận Bắc, Núi Chúa), Phú Yên (Đông Hòa, Đèo Cả, Sông Cầu)..
Nước ngoài: Chưa biết.
Giá trị:
Loài đặc hữu của Việt Nam. Cây có dáng đẹp, trồng làm cảnh và làm mẫu vật sống để cho học sinh, sinh viên học tập và nghiên cứu.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài tuế này phân bố dọc ven biển từ Bình Định đến Bình Thuận. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do xây dựng đường giao thông, chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp, cháy rừng. Loài này bị khai thác làm cảnh. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50 % trong khoảng 25 năm qua.
Phân hạng: EN A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tiếp tục bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae