TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tuế lá xẻ

Tên tiếng Anh: Micholitz's cycad
Tên Latin: Cycas micholitzii
Đồng danh: Cycas micholitzii Thiselton - Dyer, 1905
Đồng danh: Epicycas micholitzii (Dyer) de Laub., (1998)
Đồng danh: Dyerocycas micholitzii (Dyer) Nakai, (1943)
Đồng danh: Dyerocycas micholitzii (Dyer) Nakai, (1943)
Tên khác: Tuế sa thầy
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TUẾ LÁ XẺ

Cycas micholitzii Thiselton – Dyer, 1905
Epicycas micholitzii (Dyer) de Laub., (1998)
Dyerocycas micholitzii (Dyer) Nakai, (1943)
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân hoá gỗ, chủ yếu thường nằm trong đất, hiếm khi vượt trên mặt đất tới 16 cm, dài 30 – 40 cm, đường kính 4 – 24 cm, vỏ hơi nhẵn. Lá vảy (cataphylls) có mũi nhọn ngắn, phủ lông nâu xám, sớm rụng, dài 3 – 5,5 cm, rộng 6 – 8 cm tại gốc lá. Lá thường 1 – 3, hiếm khi 6, dựng đứng với đầu uốn cong, dài 1 – 2,4 m, rộng 50 cm, có 40 – 56 lá chét giả (pinnae) ở cây trưởng thành, màu xanh sẫm, dai, các lá chét cách nhau 3,5 – 6 cm tạo với trục lá (rachis) một góc nhọn; lá chét giả ở phần giữa trục dài 23 – 26 cm, rộng 1,1 – 1,9 cm, phân đôi từ 1 tới 2 lần, gân lá nổi rõ ở mặt trên, mép thẳng hay gợn sóng. Nón đực dựng đứng, hình trụ thuôn hẹp về đỉnh, dài 15–25 cm, đường kính 3 – 5 cm, lông nhung màu vàng tươi, cuống dài 3 – 3,5 cm. Vẩy nhị dài 10 – 18 mm, rộng 8 – 10 mm, tròn hay có mũi nhọn dài 1,5 mm ở đỉnh. Nón cái nằm ngay sát mặt đất, cao 6,5 – 8,8 cm, đường kính 13 – 21 cm; vảy noãn dài 10 – 12 cm, phủ lông nhung màu vàng cam, mang 4 – 6 noãn; phiến vẩy hình thoi hoặc hình trứng, dài 5 – 9 cm, rộng 4,5 – 7 cm, mép xẻ sâu đều đặn thành 14 – 22 thuỳ nhọn bên cứng, dài 1,5 – 5 CM, thuỳ nhọn ở đỉnh lớn hơn, dài 4 – 7 cm, rộng 4 – 8 mm ở gốc. Hạt hình cầu, màu vàng khi chín, dài 19 – 23 mm, đường kính 16 – 18 mm.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 3 – 4, khả năng tạo hạt tốt, hạt chín khoảng tháng 10 – 12, tái sinh từ hạt bình thường. Cây trung sinh ưa ẩm, ưa sáng, chịu lửa rừng, mọc rải rác dưới tán rừng rậm thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới ở đất thấp tới 400 – 500 m, hoặc phổ biến và có nhiều cá thể hơn trong nhiều loại thảm thứ sinh, từ rừng rậm hay rừng thưa nửa rụng lá cây lá rộng và tre đến trảng cây bụi và trảng cỏ.
Phân bố:
Trong nước: Đắk Lắk (Krông Bông), Gia Lai (Đắk Pơ, K’Bang, Krông Pa, Mang Yang), Kontum (Đắk Tô, Kon Rẫy, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đơn Dương, đèo Ngoạn Mục).
Nước ngoài: Lào và Campuchia.
Giá trị:
Nguồn gen quí độc đáo. Dáng cây đẹp, trồng làm cảnh và làm mẫu vật sống để cho học sinh, sinh viên học tập và nghiên cứu. Thân có thể dùng làm thuốc.
Tình trạng:
Tuế lá xẻ phân bố ở 4 tỉnh Tây Nguyên. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng để mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch. Loài này bị khai thác làm cảnh. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tiếp tục bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae