Tuế không gai
| Tên tiếng Anh: | |
|---|---|
| Tên Latin: | Cycas inermis |
| Đồng danh: | Cycas revoluta var. inermis (Lour.) Miq.1848 |
| Đồng danh: | Cycas siamensis var. inermis (Lour.) J. Schust. 1932 |
| Đồng danh: | Cycas macrocarpa W. Griffith, 1854 |
| Đồng danh: | Cycas inermis Lour.,1793 |
| Tên khác: | Tuế sơn trà |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Lào Bình Thuận Thừa Thiên - Huế Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp các tỉnh ở Trung Bộ Đà Nẵng Hầu khắp các tỉnh miền Đông nam bộ Khu dự trữ thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa, Đà Nẵng
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
TUẾ KHÔNG GAI
Cycas inermis Lour.,1793
Cycas revoluta var. inermis (Lour.) Miq.1848
Cycas siamensis var inermis (Lour.) J. Schust. 1932
Cycas macrocarpa W. Griffith, 1854
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales
Đặc điểm nhận dạng: Indian sago palm – Tuế sơn trà
Thân hoá gỗ không phân cành, cao 1 – 3 (4) m, đường kính 25 cm, vỏ nhẵn, đỉnh có nhiều lông mềm màu nâu đỏ, mang 6 – 35 lá mọc thành vài vòng. Lá vảy (cataphylls) hình dải, dài 40 – 50 mm, có lông. Lá màu xanh sẫm, bóng, dài 2,2 – 3 m, mang 130 – 220 lá chét giả (pinnae),mọc đối nhau và đính với trục lá (rachis) tạo thành góc 180°, có lông trắng, tận cùng của trục lá mang 2 lá chét giả; cuống lá dài 65 – 80 cm, nhẵn, có gai nhọn phân phối từ 70 tới 100% chiều dài cuống, lá chét giả ở gốc trục không tiêu giảm thành gai. Các lá chét giả ở phần giữa trục lá thường dài 29 – 35 cm, rộng 1,4 – 1,8 cm, đính vào trục với góc 60 – 80°, men theo trục 5 – 7 mm, gốc rộng 3 – 4,5 mm; lá chét mọc cách nhau 18 – 22 mm, phẳng, mép, hơi uốn cong xuống mặt dưới, nhọn đầu, gân nổi rất rõ. Nón đực hình trứng thuôn, dựng đứng, dài 23 – 30 cm, đường kính 8 cm. Vẩy nhị cứng không dày ở lưng, đỉnh có mũi nhọn cong, rất sắc, nhô cao 10 mm. Vảy noãn dài 20 cm, có lông mềm màu xám, mỗi vảy mang 4 noãn nhẵn; phiến vảy hình mác, dài 50 – 70 mm, rộng 30 – 70 mm; mép phiến vảy xẻ sâu đều đặn thành 18 – 26 thuỳ nhọn bên rất sắc, dài 4 – 5 mm, rộng 1 – 1,5 mm, thuỳ nhọn đỉnh dài 20 – 25 mm, rộng 3 mm ở gốc . Hạt hình bầu dục, dài 50 – 60 mm, rộng 38 – 50 mm; vỏ hạt chín màu vàng cam, nhẵn, dày 5 mm, có sơ.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 4 – 5, khả năng tạo hạt tốt, hạt chín tháng 12 – 2 (năm sau). Tái sinh từ hạt và nảy chồi tốt. Vốn là cây trung sinh ưa ẩm, mọc rải rác dưới tán rừng rậm cây lá rộng, thường xanh, mưa mùa ẩm trên đất thấp cây lá rộng, nhưng có thể chịu hạn và chịu sáng, mọc dưới tán rừng nửa rụng lá – Bằng lăng Lagerstroemia calyculata, Gõ đỏ Afzelia xylocarpa, Tung Tetrameles nudiflora, Dầu con rái Dipterocarpus alatus và trảng cây bụi rậm thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, phát triển chủ yếu trên đất sét thoát nước, là sản phẩm phong hoá của đá phiến sét hay bazan, ở độ cao từ ven suối khoảng 100 m đến sườn đồi núi cao 600 – 800 m.
Phân bố:
Trong nước: Thừa Bình Thuận (Hàm Thuận Bắc), Đà Nẵng (Sơn Trà, đèo Hải Vân), Đồng Nai (Cát Tiên), Khánh Hoà (Khánh Sơn), Thừa Thiên Huế (Hải Vân).
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài đặc hữu của Việt Nam và Đông dương. Cây có dáng đẹp, trồng làm cảnh ở các công viên, biệt thự và đường phố và làm tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, học tập về tính đa dạng loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này phân bố ở thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Nai. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và chia cắt do xâm lấn đất rừng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, phát triển du lịch ven biển và các yếu tố thời tiết bất lợi như khô nóng. Loài này bị khai thác làm cảnh. Số lượng cá thể trưởng thành ghi nhận rất ít. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm khoảng > 30 % trong 10 năm qua và dự báo tiếp tục suy giảm trong 10 năm tới.
Phân hạng: VU A2cd+4cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thằn lằn bóng browing
Tên tiếng Anh:Bowring's supple skink
Tên Latin:Subdoluseps bowringii
Rắn bù lịch
Tên tiếng Anh:Striped water snake
Tên Latin:Enhydris jagori
Ếch cây lớn
Tên tiếng Anh:Giant flying frog
Tên Latin:Rhacophorus maximus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae