TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tuế lá đơn

Tên tiếng Anh: King sago palm
Tên Latin: Cycas simplicipinna
Đồng danh: Cycas immersa Craib, 1961
Đồng danh: Cycas micholitzii var. simplicipinna Smitinand, 1971
Đồng danh: Cycas immersa Craib, 1961
Đồng danh: Cycas micholitzii var. simplicipinna Smitinand, 1971
Tên khác: Tuế chìm

TUẾ LÁ ĐƠN

Cycas simplicipinna (Smitinand) K. D. Hill, 1995
Cycas immersa Craib, 1961
Cycas micholitzii var. simplicipinna Smitinand1971
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng: 
Thân hoá gỗ nằm chìm trong đất, đường kính 8 – 14 cm, phần thân nhô trên mặt đất mang 2 – 5 lá trong một vòng. Lá vảy (cataphylls) hình tam giác hẹp, có lông mềm, dài 40 – 50 mm. Lá xanh sẫm, bóng, dài 90 – 250 cm, phẳng, mang 35 – 90 lá chét giả (pinnae); đính trên trục lá (rachis) đối nhau tạo thành 160 – 180°, có lông nhung màu vàng cam; đỉnh trục lá có một đôi lá chét giả. Cuống lá dài 35 – 140 cm (chiếm 40 – 60% chiều dài của lá), nhẵn, có gai chiếm 60 – 100% chiều dài của cuống; đôi lá chét giả ở gốc dài 12 – 30 cm, không tiêu giảm thành gai; các lá chét ở phần giữa trục lá màu xanh sáng, dài 20 – 60 cm, rộng 1,4 – 2,0 cm, đính với trục lá với góc 50 – 65°, men theo trục 5 – 10 mm, gốc chỉ rộng 2.5 – 4 mm (chiếm 15 – 30% của chiều rộng tối đa của lá), các lá chét cách nhau 20 – 40 mm; tiết diện phẳng; mép thẳng hoặc uốn lượn sóng; mũi nhọn ở đỉnh mềm; gân chính lồi ở mặt trên, phẳng ở mặt dưới.
Nón đực hình suốt chỉ, màu vàng kem, dài 15 – 21 cm, đường kính 2.2 – 4 cm; vảy nhị xốp, không dày ở lưng, dài 12 – 14 mm, rộng 7.5 – 10 mm, phần hữu thụ (mang túi phấn) ở dưới dài 8 – 10 mm, phần bất thụ (không mang túi phấn) ở trên, dài 3 – 6 mm, vươn cao và gần như không có mũi nhọn. Vảy nón cái dài 7 – 12 cm, có lông nhung màu nâu, mang 2 noãn nhẵn; phiến vảy hình bầu dục, dài 45 – 55 mm, rộng 18 – 35 mm, mép xẻ sâu tạo thành 10 – 14 thuỳ nhọn bên, xốp mềm, dài 15 – 25 mm, rộng 1.5 – 2 mm, thuỳ nhọn đỉnh giống thuỳ nhọn bên. Hạt hình trứng, dài 25 – 27 mm, rộng 18 – 21 mm; vỏ hạt màu vàng, nhẵn, không có sơ.
Sinh học, sinh thái:
Tái sinh từ hạt bình thường. Cây trung sinh và ưa bóng, thường thường mọc ở nơi ẩm, sườn núi, thung lũng hay ven suối, trong bóng râm hoặc nơi sáng của rừng thường xanh cây lá rộng, trảng cây bụi thứ sinh trên đất phù xa lẫn đá silicat, ở độ cao 50 – 600 m (Việt Nam) hoặc 800 m (Lào). Mùa ra nón và thụ phấn vào tháng 3 – 4, hạt trưởng thành vào tháng 10 – 11.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Bình (Bố Trạch), Quảng Trị (Đakrông, Hướng Hóa)
Nước ngoài: Lào, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Trồng làm cảnh ở các công viên, đường phố hay trong các dinh thự tạo cảnh quan rất đẹp và làm tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, học tập về tính đa dạng loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Loài Tuế lá đơn ghi nhận phân bố tại 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Loài này bị khai thác làm cảnh. Kích cỡ quần thể nhỏ, ước tính bị suy giảm > 50 % trong khoảng 30 năm qua (tiêu chuẩn A2cd). Diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 5.000 km2, sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông, lâm nghiệp và làm đường.
Phân hạng: EN A2cd; B1ab(i,iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae