TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Ken Hill

Tuế chevalier

Tên tiếng Anh: Chevalier's sago
Tên Latin: Cycas chevalieri 
Đồng danh: Cycas chevalieri Leandri, 1931
Đồng danh: Cycas chevalieri Leandri, 1931
Đồng danh: Cycas chevalieri Leandri, 1931
Đồng danh: Cycas chevalieri Leandri, 1931
Tên khác: Nghèn
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TUẾ CHEVALIER

Cycas chevalieri Leandri, 1931
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân hoá gỗ, vỏ xám đen, cao 1 – 2 m, đường kính 8 – 18 cm, mang 4 – 15 lá trong một vòng. Lá vảy (cataphylls) hình tam giác hẹp, xốp, có lông, dài 50 – 70 mm. Lá mọc thành vài vòng, xanh đậm, nhẵn bóng, dài 1,30 – 2,40 m, mang 80 – 110 lá chét giả (pinnae), mọc đối trên trục lá (rachis) và tạo thành góc 150 – 180°, có lông nhung màu vàng cam hay nâu, đỉnh trục lá mang một đôi lá chét giả. Cuống lá dài 70 – 140 cm (chiếm 45 – 60% chiều dài của lá), nhẵn, không có gai hoặc có gai trên toàn bộ chiều dài của cuống. 2 lá chét giả ở gốc trục lá dài 17 – 24 cm, không tiêu giảm thành gai. Lá chét giả ở phần giữa trục dài 25 – 42 cm, rộng 1,4 – 2 cm, đính với trục lá ở góc 50 – 80°, men theo trục lá 2 – 6 mm, gốc hẹp 2,5 – 4 mm (bằng 15 – 30% của chiều rộng tối đa), cách nhau 15 – 21 mm, mép thẳng hay gợn sóng, chóp nhọn mềm; gân chính nổi rõ ở hai mặt. Nón đực hình suốt chỉ, màu nâu hoặc vàng kem, dài 15 – 25 cm, đường kính 4 – 7 cm; vảy nhị xốp, không dày ở lưng, dài 14 – 17 mm, rộng 7 – 10 mm, đầu không có gai nhọn. Vảy noãn dài 9 – 13 cm, có lông nhung nâu, mang 2 – 4 noãn nhẵn; phiến vảy hình gần tròn, dài 35 – 55 mm, rộng 25 – 50 mm, mép xẻ thành 15 – 25 thuỳ nhọn bên, xốp mềm, dài 20 – 35 mm; thuỳ nhọn đỉnh dài 25 – 40 mm, rộng 3 – 8 mm ở gốc. Hạt hình trứng, dài 18 – 27 mm, rộng 15 – 25 mm; vỏ hạt màu vàng, nhẵn, dày 1 – 2 mm, không có sơ.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện vào tháng 3 – 4, hạt chín vào tháng 8 – 9, tồn tại tới năm sau. Khả năng tạo hạt và tái sinh từ hạt tốt. Cây trung sinh và ưa bóng, mọc dày đặc (nhiều khi gặp hàng chục cá thể trên 100 m2) dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa ẩm với một mùa đông hơi lạnh và khô ở đất thấp cây lá rộng hoặc trên sản phẩm phong hoá của đá granít, đá phiến, từ thềm ven suối đến s­ườn núi cao, ở độ cao 600 – 700 m.
Phân bố:
Trong nước: Nghệ An (Diễn Châu: Diễn Lâm; Nghĩa Đàn, Trạm Lụi), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Sơn Kim, Rào Àn, Sơn Hồng), Quảng Bình, Quảng Trị (Đắk Krông, Cu Poho, Rào Quán, Khe Sanh).
Nước ngoài: Nhiều khả năng còn gặp ở Lào, ít nhất ở các tỉnh Bôlikhamxay và Xaravẳn.
Giá trị:
Loài đặc hữu và nguồn gen quí của Việt Nam và Đông dương. Cây có dáng đẹp, trồng làm cảnh, thân dùng làm vị thuốc.
Tình trạng:
Loài này phân bố ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Loài này thường bị khai thác làm cây cảnh. Số lượng cá thể trưởng thành hiếm gặp. Diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 20.000 km2, sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi thành đất sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, làm đường.
Phân hạng: VU B1ab(i,iii,v).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Tiến hành trồng bảo tồn nhân tạo.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae