Trĩ đỏ khoang cổ
| Tên tiếng Anh: | Common pheasant |
|---|---|
| Tên Latin: | Phasianus colchicus |
| Đồng danh: | Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 |
| Tên khác: | Trĩ đỏ |
- Độ cao so mặt nước biển 1798 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Châu Á Lào Trung Quốc Myanmar Cao Bằng Lạng Sơn Bắc Kạn Lâm Đồng Quảng Ninh Yên Bái Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, Lạng Sơn
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Trảng cỏ cây bụi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
TRĨ ĐỎ KHOANG CỔ
Phasianus colchicus Linnaeus, 1758
Họ: Trĩ Phasianidae
Bộ: Gà Galliformes
Đặc điểm nhận dạng:
Chim đực trưởng thành: Có đỉnh đầu và gáy nâu ánh xanh. Trán, dải hẹp trên mắt, cằm, họng và cổ đen ánh lục, xanh hoặc tím tùy góc nhìn. Phía dưới cổ có vòng trắng ngắt đoạn ở phía trước và sau. Các lông phần trên lưng có phần gốc nâu gụ thẫm, dải hẹp dọc ở giữa trắng nhạt mút lông đen, hai bên phiến lông viền hung nâu rộng. Ngực hung nâu đỏ, mỗi lông đều có vệt đen hẹp ở dọc thân lông và mút lông chia thành hai thùy tròn.
Lông vai có viền nâu ánh đỏ rộng, tiếp vào trong là dải đen rồi dải hung nâu nhạt, Phần giữa lông là vệt nâu rộng hay hung nâu lấm tấm đen. Lông ở lng và trên đuôi có phần mút nâu ánh xanh và phần trong của lông có vằn hung nâu nhạt và đen xen kẽ, làm cho các phần này có màu nâu ánh xanh lẫn với vằn ngang đen và hung nâu nhạt xen kẽ không đều. Đuôi màu vàng hơi ánh xanh, có vằn ngang đen ở giữa và nâu tím ở hai bên. Hai bên mép lông đuôi giữa và mép ngoài của các lông khác nâu ánh tím lẫn ánh xanh. Cánh nâu có viền hay vằn nâu nhạt, bao cánh nâu ánh thép, hai bên mép lông nâu tím, phần giữa lông có vằn nâu nhạt. Bụng nâu thẫm có ánh đỏ nhất là phần trên bụng. Sườn vàng cam óng ánh, mút mỗi lông đều có vệt đen hình tam giác.
Chim cái: Đỉnh đầu và cổ nâu thẫm hay đen với những vạch ngang hẹp màu hung đỏ. Lưng và vai hung đỏ phớt nâu tím. Cằm và họng màu vàng xám có
vạch nâu thẫm. Phía trớc cổ và phần trên ngực có những vạch và chấm đen thô hơi óng ánh màu hồng tối. Phần dưới của ngực, sườn và bụng màu xám hung thẫm, với vân nâu tối và phần giữa lông màu nâu đỏ thẫm. Dưới đuôi nâu đỏ tối lẫn các vệt đen thô. Đùi nâu xỉn. Mẳt nâu đỏ. Da trần ở mặt đỏ tươi. Mỏ và chân xám sừng.
Kích thước: Cánh (đực): 225 – 245 mm; (cái): 195 – 215 mm; đuôi (đực): 420 – 490 mm, (cái): 246 – 272 mm; giò: 70 – 75 mm; mỏ: 28 – 32 mm.
Sinh học, sinh thái:
Chưa rõ. Theo một số thợ săn ở Cao Bằng và Lạng Sơn thì mùa sinh sản của Trĩ đỏ từ tháng 2 – 7, đôi khi kéo dài sang tháng 8. Thường đẻ trứng vào tháng 2 – 3, hay làm tổ ở các đồi cỏ tranh, đồi guột. Mỗi lứa đẻ 5 trứng hình bầu dục, có đầu to và đầu nhỏ, vỏ trứng màu hung nhạt. Thường gặp chim non rời tổ vào tháng 7 có khi gặp vào tháng 8. Phân loài trĩ đỏ khoang cổ nuôi ở Vườn thú Hà Nội có mùa sinh sản từ tháng 4 – 6, mỗi lứa đẻ 7 – 8 trứng, hình bầu dục một đầu to một đầu nhỏ, vỏ xám ngà. Thời gian ấp là 23 – 24 ngày (Số liệu của Vườn thú Hà Nội, 1998 – 2002).
Thức ăn của Trĩ đỏ là ngũ cốc, hạt cỏ dại và côn trùng. Con cái bắt được ngày 15 tháng 6 năm 1965 đang thay lông ở giai đoạn đầu.
Trĩ đỏ sống đôi hay đàn nhỏ 3 – 5 con; nơi ở thích hợp là vùng đồi núi thấp có độ cao khoảng 800 – 1500m, nơi có nhiều cây guột tốt, cỏ tranh và cây bụi nhỏ hay rừng thông nơi vắng vẻ nhưng không xa vùng nương rẫy, không bao giờ gặp ở rừng sâu và rậm rạp.
Phân bố
Trong nước: Phân loài Phasianus colchicus takatsukasae gặp ở Cao Bằng, Lạng Sơn và phân loài Phasianus colchicus rothschildi gặp ở Lào Cai, Yên Bái và Bắc Kạn và các tỉnh Lâm Đồng trở vào đến Đồng Nai.
Nước ngoài: Phân loài Phasianus colchicus takatsukasae gặp ở phía nam Trung Quốc (Quảng Tây). Phân loài Phasianus colchicus rothschildi gặp ở đông nam Trung Quốc (đông nam tỉnh Vân Nam), Đông Bắc và Tây bắc Việt Nam.
Giá trị:
Quý hiếm, bộ lông có nhiều màu sắc, là loài chim cảnh đẹp, hấp dẫn và có giá trị khoa học, thực phẩm, thương mại. Cho nên từ lâu chúng đã được nuôi ở nhiều nước Châu Á và châu Âu.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận ở vùng Đông Bắc Việt Nam, tuy nhiên, đã hơn 20 năm không được ghi nhận lại; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng, khai thác than, khai thác lâm sản; quần thể rất nhỏ và bị chia cắt, ước tính kích cỡ quần thể < 250 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần tăng cường công tác bảo vệ, bảo tồn loài, kiểm soát chặt tình trạng săn bắt, phá huỷ sinh cảnh sống; bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này..
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 265.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm cánh bản đồ
Tên tiếng Anh:Common map
Tên Latin:Cyrestis thyodamas
Bướm quạ chót cánh bạc
Tên tiếng Anh:Common crow
Tên Latin:Euploea core
Bướm hoa đuôi công
Tên tiếng Anh:Peacock pansy
Tên Latin:Junonia almana
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae