TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Trâu rừng

Tên tiếng Anh: Water buffalo
Tên Latin: Bubalus bubalis
Đồng danh: Bos bubalis Linnaeus, 1758
Đồng danh: Bos bubalus Gmelin, 1788
Đồng danh: Bos buffelus Blumenbach, 1821
Đồng danh: Bubalus bubalis (Linnaeus, 1758)
Tên khác: Trâu nước
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TRÂU RỪNG

Bubalus bubalis (Linnaeus, 1758)
Bos bubalis Linnaeus, 1758
Bos bubalus Gmelin, 1788
Bos buffelus Blumenbach, 1821
Họ: Trâu bò Bovidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Hình dạng giống trâu nhà, nhưng to và khoẻ hơn. Thân dài tới 2,8 m. Trọng lương 800 – 1200kg. Đầu to, mõm ngắn, trán có lông dài rậm mầu xám đen, phía dưới cổ có đám lông trắng hình chữ V. Sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, dài 1,4 – 2m, mặt cắt ngang gốc sừng hình tam giác. Thân sừng có nhiều vết nhăn nheo, mút sừng nhọn hướng về phía sau. Lưng mầu xám hoặc nâu xám. Đuôi ngắn có túm lông ở mút.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn là cỏ, lá cây, măng tre nứa và chồi cây non. Thời gian có chửa khoảng 10 tháng. Ba đến bốn năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Thường sống ở những cánh rừng già, rừng thưa ven sông suối, hoặc trong thung lũng sâu có sình lầy ẩm ướt địa hình bằng phẳng, không sống ở núi cao sườn dốc lớn. Sống thành từng đàn 20 – 30 con. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều tối trong rừng thưa, ven rừng, trảng cỏ cây bụi. Buổi trưa thường nghỉ ngơi, đầm mình trong bùn nước khi tiết trời nóng bức. Ban đêm ngủ cả đàn quây thành vòng tròn, con non, con già ở giữa. Trâu rừng có thể bị hổ báo tấn công, nhưng nhờ tập tính sống đàn bảo vệ lẫn nhau nên ít bị nguy hiểm.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây gặp ở Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên). Nhưng hiện nay gần như không còn thấy ngoài tự nhiên. Có thể loài này đã tuyệt chủng ở Việt Nam.
Thế giới: Ấn Độ (Assam), Srilanca, Thái Lan, Lào, Cambodia.
Giá trị:
Là nguồn gốc của trâu nhà. Là nguồn gen quý hiếm. Có thể lai với trâu nhà tạo giống trâu khỏe mạnh hơn, cho năng suất thịt và các sản phẩm khác như da lông làm hàng da, xương, sừng làm hàng mỹ nghệ.
Tình trạng:
Trâu rừng ngày càng trở nên rất hiếm. Trước đây chúng có vùng phân bố khá rộng được ghi nhận ở nhiều nơi như: Thừa Thiên – Huế, Đồng Nai (thượng nguồn sông Đồng Nai, sông La Ngà), Bình Dương (Thủ Dầu Một), Thành phố Hồ Chí Minh (Gia Định), và Côn Đảo, đảo Phú Quốc. Ngày nay có thể chúng chỉ còn ở Daklak (Ea Súp, Đắc Nông), Đồng Nai (VQG Cát Tiên). Do khai thác, chặt phá rừng làm nương rẫy đã và đang làm mất nơi sinh sống của chúng.
Phân hạng: EX.
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ IUCN (2000) đã xếp Trâu rừng vào bậc EN, Nghị định 18/HĐBT, Nghị định 48/2002/ NĐ-CP của Chính phủ cấm tuyệt đối săn bắn bẫy bắt và buôn bán. Cấm săn bắn đàn trâu hoang dã trong rừng vùng Phi Lao (Đạo Nghĩa, Đắk Nông) và bảo vệ rừng ở vùng này, tạo điều kiện cho đàn trâu hoang phát triển.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần động vật – trang 45.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae