TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tôm hùm bông

Tên tiếng Anh: Ornate spiny lobster
Tên Latin: Panulirus ornatus
Đồng danh: Palinurus sulcatus H.M. Edwards, 1837
Đồng danh: Senex ornatus Lanchester, 1900
Đồng danh: Palinurus sulcatus H.M. Edwards, 1837
Đồng danh: Senex ornatus Lanchester, 1900
Tên khác: Tôm hùm bông

TÔM HÙM BÔNG

Panulirus ornatus (Fabricius, 1798)
Palinurus sulcatus H.M. Edwards, 1837
Senex ornatus Lanchester, 1900
Họ: Tôm hùm gai Palinuridae
Bộ: Mười chân Decapoda

Đặc điểm nhận dạng:
Đây là loài có kích thước cá thể lớn nhất trong các loài Tôm hùm Panulirus, chiều dài (không kể râu) có thể đạt đến 50 cm (4 – 4.5 kg/con), phổ biến 30 – 35 cm (1.5 – 1.8 kg/con); vỏ láng có màu xanh nước biển pha lá cây, các gai trên đầu ngực màu cam trừ gai má màu trắng, giữa vỏ lưng các đốt bụng có 1 dãy ngang màu đen hoặc nâu đen tương đối rộng và có 1 hay 2 đốm màu kem hay trắng sáng thành cặp tương ứng ở 2 mặt bên đốt bụng. Phiến gốc râu I có 4 gai xếp thành hình vuông, 2 gai trước lớn hơn; chân hàm III không có nhánh ngoài; vỏ lưng các đốt bụng láng không có rãnh hoặc vết tích của rãnh.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở độ sâu từ 1 mét đến 50 mét, trong đó phổ biến nhất là các vùng nước ven bờ, độ trong thấp, sâu từ 1 – 8m; thường ẩn trong các hốc đá có chất đáy cát hoặc cát bùn gần cửa sông hay trên các rạn san hô; không kết đàn, sống riêng lẻ, đến mùa sinh dục mới bắt cặp. Hàng năm, ở các tỉnh ven biển miền Trung, từ tháng 12 đến tháng 7 – 8 năm sau, Tôm con (chiều dài vỏ đầu ngực 8 – 25mm) thường tập trung nhiều ở các ghềnh đá ven bờ và ven các đảo, rộ nhất từ tháng 12 đến tháng 1 – 2 năm sau. Tôm hùm bông là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong các loài tôm hùm Panulirus, với mật độ nuôi 10 – 15 con/m2 và thức ăn là cá, giáp xác nhỏ, nhuyển thể, cầu gai thì tôm giống trọng lượng 50 – 100 gam/con có tốc độ tăng trọng khoảng 15 – 25 gam/con/tháng.
Phân bố:
Trong nước: Rất phổ biến ở Việt Nam, tập trung nhất ở các tỉnh ven biển miền Trung.
Nước ngoài: Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương: Nhật Bản, quần đảo Solomon, Papua new Guinea, phía Tây nam, Tây bắc, Đông bắc và đông Australia, Tân Đảo và Fiji, Biến Đỏ và Đông Phi, Đông Địa Trung Hải.
Giá trị:
Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học. Có thể nghiên cứu để nuôi thương phẩm phát tiển kinh tế.
Tình trạng:
Loài này phân bố rải rác ở ven biển Việt Nam, tập trung ở khu vực miền Trung. Vùng phân bố bị thu hẹp và suy thoái do khai thác san hô, ô nhiễm môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng vùng ven biển. Do nhu cầu xuất khẩu mạnh, lượng khai thác hàng năm tăng cao, quần thể suy giảm rõ rệt, số lượng cá thể trưởng thành biến động mạnh. Nguồn tôm giống ngoài tự nhiên cũng bị khai thác triệt để phục vụ cho nghề nuôi tôm hùm lồng ở các tỉnh ven biển miền Trung. Uớc tính kích cỡ quần thể đã suy giảm > 30% trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Nghiên cứu về hiện trạng của loài (kích thước quần thể, phân bố, xu thế, các mối đe dọa, các yêu cầu về sinh thái). Giảm cường độ khai thác, không khai thác vào mùa sinh sản. Hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 55.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae