TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:L. Averyanov, Phùng Mỹ Trung

Thông đỏ nam

Tên tiếng Anh: Rakhal
Tên Latin: Taxus wallichiana
Đồng danh: Cephalotaxus celebica Warb., 1900
Đồng danh: Cephalotaxus mannii E.Pritz. ex Diels, 1900
Đồng danh: Cephalotaxus sumatrana Miq., 1858
Đồng danh: Podocarpus celebicus Hemsl., 1896
Tên khác: Thông đỏ nam
  • Độ cao so mặt nước biển 1600 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THÔNG ĐỎ NAM

Taxus wallichiana Zucc. 1843
Cephalotaxus celebicaWarb., 1900
Cephalotaxus mannii E.Pritz. ex Diels, 1900
Cephalotaxus sumatrana Miq., 1858
Podocarpus celebicus Hemsl., 1896
Họ: Thủy tùng Taxaceae
Bộ: Hoàng đàn Cupressales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỡ cao tới 20 m, đư­ờng kính thân 40 – 50 cm, thường xanh. Lá mọc xoắn ốc, xếp thành hai dãy do gốc lá bị vặn, hình dải, hơi cong hình chữ S, dài 2,5 – 4 cm, rộng 2 – 3 mm, thót dần, nhọn ở hai đầu. Cây khác gốc. Nón đực hình chuỳ, đơn độc ở nách lá. Nón cái đơn độc trên đỉnh của cành ngắn tại một bên của trục hoa, gốc đỡ bởi vỏ hạt giả. Hạt hình trứng, nằm trong vỏ hạt giả khi chín mọng nước màu đỏ tươi, có cạnh, dài khoảng 6 – 7 mm. Loài này phân biệt với Thông đỏ bắc (Taxus chinensis) bởi lá cong hình chữ S và dài hơn.
Sinh học, sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 2 – 4, chín vào tháng 8 – 12. Tái sinh bằng hạt và giâm cành. Mọc rải rác trong rừng rậm thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới trên đá granít, gần khe mối, ở độ cao 1.400 – 1.500 m.
Phân bố:
Trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt, Đơn Dương, Lạc Dương). Có khả năng còn sót lại ở Khánh Hoà.
Nước ngoài: Ấn Độ, Bhutan, Indonesia, Lào, Myanmar, Nepal, Pakistan, Philippines, Trung Quốc.
Giá trị:
Gỗ tốt, vỏ than chứa hoạt chất sinh học Taxine đang được nghiên cứu sản xuất thuốc chữa
bệnh ung thư.
Tình trạng:
Thông đỏ nam hiện chỉ ghi nhận ở tỉnh Lâm Đồng (ghi nhận ở tỉnh Khánh Hòa chưa được kiểm chứng). Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do tác động của các hoạt đông canh tác nông nghiệp, cháy rừng và khai thác lâm sản. Loài này cũng bị khai thác lấy gỗ và làm dược liệu. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50 % trong vòng 30 năm qua. Số lượng cá thể trưởng thành ước tính khoảng 100 cá thể.
Phân hạng: EN A2acd; C2a(i)
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP và Nghị định số 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài nằm trong các Vườn quốc già và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh sống của loài, phòng chống cháy rừng. Phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 509.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae