TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Yuan Chang

Thỏ rừng trung hoa

Tên tiếng Anh: Chinese hare
Tên Latin: Lepus sinensis
Đồng danh: Lepus formosus Thomas, 1908
Đồng danh: Lepus laskerewwi Khomenko, 1916
Đồng danh: Lepus flaviventris Allen, 1927
Đồng danh: Lepus yuenshanensis Shih, 1930
Tên khác: Thỏ rừng trung quốc
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THỎ RỪNG TRUNG HOA

Lepus sinensis Gray, 1832
Lepus formosus Thomas, 1908
Lepus laskerewwi Khomenko, 1916
Lepus flaviventris Allen, 1927
Lepus yuenshanensis Shih, 1930
Họ: Thỏ rừng Leporidae
Bộ: Thỏ Lagomorpha

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ trung bình.Toàn thân phủ lông đen dài mịn lẫn với lông có khoang màu vàng đất ở gần mút. Mặt lưng màu vàng đất điểm đen nhạt. Bên thân nhạt hơn do thiếu các lông đen. Bên đầu, nhất là vùng má màu nâu thẫm. Phần gáy kéo lên phía sau hai tai và vùng mắt màu vàng hung nhạt. Mặt ngoài chi trước vàng đất như bên thân. Mặt ngoài chi sau màu thẫm như mông. Từ cằm tới ngực trắng nhạt hơi phớt vàng đất. Mặt bụng và mặt trong chi sau màu trắng hơi ngả màu nâu đất. Tai khá phát triển, phía trên mặt sau của hai vành tai lông mịn ngắn màu đen. Đuôi ngắn, có lông dài mịn, trên đuôi màu giống lưng, mặt dưới nhạt màu hơn. Thỏ đực lớn hơn thỏ cái.
Sinh học, sinh thái:
Sinh sống ở những sinh cảnh giáp ranh giữa đồng ruộng và đồi cỏ, sa van cây bụi. Thỏ xây tổ đơn giản bằng cỏ, lá khô với các cành cây nhỏ dưới bụi cây rậm. Thức ăn là cỏ, lá cây, rau muống, dây khoai lang… Thỏ sinh đẻ nhiều lứa trong năm vào các tháng mùa xuân và mùa thu, khoảng 2 tháng đẻ một lứa. Mỗi lứa đẻ 2 – 4 con.
Phân bố:
Trong nước: Lạng Sơn (Mẫu Sơn, Bình Gia, Bắc Sơn).
Nước ngoài: Trung Quốc
Giá trị:
Loài thú hiếm, phân bố hẹp, có giá trị khoa học, thẩm mỹ. Là tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu và học tập về đa dạng loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Trước năm 1990, loài được ghi nhận ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Quần thể của loài bị suy giảm do săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; sinh cảnh sống bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp, làm đường, phát triển du lịch và khai thác lâm sản. Kích thước quần thể ước tính đã suy giảm > 50% trong vòng 15 năm qua. Hiện chỉ còn ghi nhận ở 3 địa điểm thuộc tỉnh Lạng Sơn (Bình Gia, Mẫu Sơn, Lộc Bình) với diện tích vùng cư trú (AOO) ước tính < 500 km2.
Phân hạng: ENA2cd+B2ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ.. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giảm thiểu các hoạt động săn bắt, sử dụng và buôn bán.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 64.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae