TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Thằn lằn phê nô ấn

Tên tiếng Anh: Indian forest skink
Tên Latin: Sphenomorphus indicus
Đồng danh: Hinulia indica Gray, 1853
Đồng danh: Lygosoma indicum Smith, 1935
Đồng danh: Hinulia indica Gray, 1853
Đồng danh: Lygosoma indicum Smith, 1935
Tên khác: thằn lằn phê nô bắc bộ
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN PHÊ NÔ ẤN

Sphenomorphus indicus Gray, 1853
Hinulia indica Gray, 1853
Lygosoma indicum Smith, 1935
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước lớn, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt của cá thể cái là 78.8 – 82.6 mm, ở cá thể đực là 63.4 – 69.6 mm. Đầu dài hơn rộng. Mõm rộng hơn cao. Vảy mũi trên tiêu biến. Vảy trước trán tách biệt với nhau bởi trán. Vảy chẩm chạm nhau về phía sau. Một cặp vảy phình ra. 2 vảy má. 4 vảy trên ổ mắt được tiếp nối bởi hai vảy trên sau ổ mắt. 2 vảy mang tai trên. 2 vảy tai dưới. Dưới mi mắt có vảy. Môi trên có 7 vảy, trong đó vảy thứ năm và thứ sáu dưới mắt, tách biệt với nó là một hàng vảy nhỏ. Xuất hiện tai ngoài với ba dái tai rất nhỏ. Màng nhĩ sâu bên trong. Cằm rộng hơn dài. Môi dưới có 7 vảy. Sau cằm không phân tách. Thân giữa có 34 – 36 hàng vảy. Vảy lưng giữa đường sọc thân ở ½ + 8 + ½ hàng, mượt và rộng như vảy bụng. Bên cột sống có 68 – 74 vảy. Bụng có 65 – 69 hàng vảy ngang, mượt. Hai vảy phình trước lỗ huyệt. Vảy giữa dưới đuôi không nới rộng. Chân ngắn, có 5 ngón. Các ngón chân và ngón cái chạm vào nhau khi chụm lại. Dưới ngón thứ 4 có 11 màng vảy mỏng và dưới ngón cái thứ tư có 15 – 18 màng vảy mỏng.
Màu sắc mẫu vật: Lưng và đuôi có màu nâu vàng. Mặt bên phía trên có sọc xám sẫm, rộng bằng 3 hoặc 4 vảy, chạy từ sau mắt đến đáy đuôi. Sọc lưng bụng sáng xuất hiện trên cổ và vai. Mép dưới của sọc đậm màu có một bài nốt loang sáng. Vùng dưới bụng màu xám sáng. Vùng dưới mặt bên màu xám sáng. Bụng trắng.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này sống trong các hang hốc và dưới các lớp thảm mục thực vật ở rừng thường xanh và cả các khu rừng phục hồi sau nương rẫy ở độ cao thấp đến 800m. Thức ăn là các loài côn trùng, chân đốt sống trong các khu vực phân bố, kiếm ăn ban ngày, khá nhút nhát. Đẻ 2 trứng trong hốc cây hoặc dưới lớp thảm mục thực vật.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai, Lạng Sơn. Đồng Nai, Bình Phước
Ngoài nước: Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác như Cambodia, Lào, Malaysia, Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae