TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường

Thằn lằn chỉ eme

Tên tiếng Anh: Four-striped skink
Tên Latin: Plestiodon quadrilineatus
Đồng danh: Mabouia quadrilineatus Günther, 1864
Đồng danh: Eumeces quadrilineatus Bocourt, 1879
Đồng danh: Mabouia quadrilineatus Günther, 1864
Đồng danh: Eumeces quadrilineatus Bocourt, 1879
Tên khác: Thằn lằn đuôi xanh
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN CHỈ EME

Plestiodon quadrilineatus Blyth, 1853
Mabouia quadrilineatus Günther, 1864
Eumeces quadrilineatus Bocourt, 1879
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Tấm mõm rộng bằng hai lần cao; 2 tấm trên mũi chạm nhau và chạm tấm sau mũi. Lỗ mũi ở giữa tấm mũi. Có 1 tấm sau mũi; 2 tấm má nằm trên tấm mép trên thứ nhất và thứ hai. Tấm trán – mũi nguyên, phía bên tiếp xúc với tấm má thứ nhất. Có 2 tấm trước trán, đường nối giữa chúng bé hơn chiều dài tấm trán mũi, phía bên tiếp xúc với cả 2 tấm má. Tấm trán dài hơn 2 lần rộng, dài hơn khoảng cách từ nó đến tấm mõm; phía bên tiếp xúc với tấm trên ổ mắt thứ nhất, thứ hai và một phần tấm thứ ba. Có 2 tấm trán đỉnh rộng hơn tấm gian đỉnh, tương đương tấm trước trán; tấm trán đỉnh tiếp xúc với tấm trên ổ mắt thứ ba và thứ tư ở phía bên, phía sau tiếp xúc tấm gian đỉnh và tấm đỉnh.
Tấm gian đỉnh nằm giữa 2 tấm đỉnh và 2 tấm trán đỉnh. Tấm đỉnh lớn, gấp 2 lần tấm gian đỉnh. Có 3 cặp tấm gáy dài. Có 2 tấm trước dưới ổ mắt; 6 tấm trên mi; 4 tấm trên ổ mắt; 1 tấm sau trên ổ mắt; 1 tấm sau mắt và 3 tấm sau dưới ổ mắt. Có 7 tấm mép trên, tấm thứ 7 lớn nhất, tấm thứ 5 tiếp xúc ổ mắt; 6 – 7 tấm mép dưới ở mỗi bên. Tấm cằm rộng gấp 2 lần dài, viền tấm cằm lớn hơn tấm mõm. Có 2 tấm sau cằm lẻ, tấm sau lớn hơn tấm trước một chút.
Vảy thân nhẵn. Có 22 hàng vảy bao quanh thân; 45 – 46 vảy dọc lưng từ sau tấm gáy đến ngang với trước gốc đùi; 57 vảy dọc bụng từ sau tấm cằm lẻ đến trước vảy hậu môn. Vảy lưng có mép sau bằng, vảy bụng có mép sau hơi tròn. 2 vảy trước lỗ huyệt lớn. Vảy dưới đuôi rộng, cách lỗ huyệt một hàng vảy. Chi ngắn; có 5 bản mỏng dưới ngón I, 15 bản mỏng dưới ngón IV chi trước; 7 bản mỏng dưới ngón I, 20 bản mỏng dưới ngón IV chi sau. Thân xanh đen, mép mõm trắng đục. Cằm và họng trắng hồng. Bụng xám đen. Dưới đuôi và các chi trắng đục. Có 2 sọc trắng từ mõm qua trên mắt, kéo dài đến đuôi và 2 sọc bên thân. Đuôi có màu xanh ngọc, nhạt ở phía trước và sẫm hơn ở phía sau.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, dưới các thảm mục thực vật, quanh các khu vực có gốc cây to hay tảng đá mẹ trong rừng thường xanh. Thức ăn là các loài ấu trùng sống trong khu vực sinh sống.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắk Lắk.
Nước ngoài: Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae