Thằn lằn ngón trung gian
| Tên tiếng Anh: | Intermediate bow-fingered gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Cyrtodactylus intermedius |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus septimontium Murdoc et al., 2019 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus septimontium Murdoc et al., 2019 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus septimontium Murdoc et al., 2019 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus septimontium Murdoc et al., 2019 |
| Tên khác: | Thằn lằn chân ngón bảy núi |
- Độ cao so mặt nước biển 400 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
THẰN LẰN CHÂN NGÓN TRUNG GIAN
Cyrtodactylus intermedius Smith, 1917
Cyrtodactylus septimontium Murdoc et al., 2019
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con đực có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 80.3 mm. Đầu hơi phẳng, phân biệt với cổ, hình tam giác từ góc nhìn lưng. Vùng trước mắt lõm phía trước, phồng nhẹ phía sau. Vùng trước trán lõm sâu. Khoé mắt tròn. Mõm thon dài, tròn ở mặt lưng. Mắt lớn. Màng nhĩ hình bầu dục, xiên lệch, kích thước tương đối. Khoảng cách mắt màng nhĩ lớn hơn đường kính mắt. Vảy mõm hình chữ nhật, chia từng phần ở phía lưng bởi một luống kẻ, được bao quanh phía sau bởi những vảy trên mũi lớn bên trái và phải và một vảy gian mũi đơn lớn. phía mặt bên được bao bọc bởi những vảy môi trên đầu tiên. Lỗ mũi ngoài được bao bọc phía trước bởi vảy mõm, phía lưng bởi vảy mũi trên, phía sau bởi ba vảy sau mũi kích thước tương đối, phía bụng bởi vảy môi trên đầu tiên. Vảy môi trên có 8 vảy bên phải và 9 vảy bên trái, trải dài đến dưới điểm giữa của mắt, vảy môi trên thứ hai hơi lớn hơn vảy đầu tiên.
Vảy môi dưới có 8 vảy bên phải và 9 vảy bên trái hơi nhọn về phía dưới và hơi vượt qua phần đuôi của những vảy môi trên nở rộng.Vảy của mõm và trước mắt phẳng đến nơi nhô lên, lớn hơn vảy nổi hột trên đỉnh đầu và chẩm. Vảy chẩm hoà lẫn với những nốt sần nở rộng rõ. Vảy chân mày không thon dài hoặc kết sừng. Vảy cằm hình tam giác, được bao quanh phía mặt bên bởi những vảy môi dưới đầu tiên và phía sau bởi những ảy sau cằm hình thang bên trái và phải. Một hàng vảy cận dưới môi thon dài hơi nở rộng trải dài ra phía sau đến vảy môi dưới thứ sáu/ Vảy họng và ngực nhỏ, nổi hột, xếp ra sau thành những vảy bụng và ngực xếp gối lên nhau phẳng, mịn, lớn.
Thân ngắn, có nếp bên bụng mờ. Vảy lưng nhỏ, nổi hột rải rác có nốt sần kết sừng yếu lớn, sắp xếp bán quy luật, hình nón. Những nốt sần chạy từ vùng chẩm đến đuôi rồi chúng tạo hàng ngang tách biệt bởi sáu hoặc vảy vảy phẳng nhỏ. Những nốt sần giãn cách liên tiếp trên vùng trước mắt và chẩm nhưng giảm bớt kích thước và mờ sần ở đỉnh đầu. Khoảng 19 hàng nốt sần dọc thân giữa những nếp bụng bên, 30 hàng nốt sần bên xương sống. Bụng có 42 vảy phẳng, lợp lên nhau giữa những nếp bụng bên, rộng lơn vảy lưng. Vảy trước huyệt gốc sinh lỗ. Không có rãnh trước huyệt sâu hoặc lún xuống.
Chân trước ngắn. Vảy nổi hột của chân trước lớn hơn vảy trên thân, rải rác có nốt sần hình nón lớn. Vảy gan bàn chân tròn, hơi nhỉnh lên. Chai đốt ngón tiêu biến. Các ngón rất phát triển, cong ở đáy, các khớp đốt. Các ngón hơi hẹp hơn những chỗ cong. Nếp da dưới ngón mở rộng theo chiều ngang đến chỗ cong, nổi hột hơn ở vùng xa chỗ cong. Móng khá phát triển, đáy móng được bao bọc bởi vảy mặt lưng và mặt bụng.
Chân sau mập hơn chân trước, được phủ bởi vảy nổi hột ở mặt lưng, có rải rác nốt sần hình nón lớn và những vảy phẳng, lớn hơn ở phía trước. Vảy mặt bụng của đùi phẳng, xếp lợp, lớn hơn vảy mặt lưng. Vảy dưới cẳng chân phẳng, xếp lợp. Một hàng gồm 13 vảy đùi nở rộng bên phải và 14 ở bên trái nối với những vảy trước huyệt nở rộng, kết thúc ở gần chỗ cong của đầu gối. Không có lỗ đùi. Không có chai đốt ngón. Ngón chân dài, phát triển tốt, con ở đáy và giữa các khớp đốt. Sáu (trái, phải) nếp da dưới ngón nằm theo chiều ngang trên ngón thứ tư ngay gần chỗ cong khớp mà mở rộng lên đế, 12 (trái, phải) màng da không thay đổi ở xa chỗ cong, tức là tất cả có 18 riềm da dưới ngón. Móng vuốt phát triển, được bao bọc bởi vảy mặt bụng và mặt lưng ở đáy.
Gốc đuôi dài 114mm, rộng 6.2 mm ở đáy, nhọn chót. Vảy mặt lưng của đuôi phẳng, vuông, xếp thành hàng ngang. Đuôi phân đốt có sáu hoặc bảy hàng vảy ngang trên mỗi đốt. Mép sau của các đốt đuôi được bao quanh bởi ba hoặc bốn nốt sần phẳng mở rộng phía lưng đến trước 1/3 đuôi. Vùng dưới đuôi rộng, một nửa đuôi có vảy ngang, nửa còn lại có vảy hình dáng không đều, nhỏ hơn. Đáy của đuôi có u lồi của cơ quan bán sinh dục.Hai nốt sần sau huyệt ở mặt bên của u lồ bán sinh dục. Vảy sau huyệt mịn, phẳng, lớn, xếp lợp.
Trong trạng thái tiêu bản: Màu nền mặt lưng của đầu, thân, chân và đuôi là nâu sáng. Vạch gáy màu nâu có mép tròn phía sau chạy từ mép sau một mắt đến méo sau mắt còn lại, viền được bao bởi những được kẻ sáng mỏng. Bốn vằn vết thân đơn màu có trung tâm sáng mau xuất hiện ở giữa các khớp chân. Vằn vết đầu tiên kết thúc ở vai. Vằn vết thứ hai và ba kết thúc lưng đến nếp bên bụng. Vằn vết thứ tư kết thúc ở mép trước của khớp chân sau. Vằn viền sáng trên vết thân thường bị giới bạn đến các nốt sần mà xuất hiện đốm. Tỉ lệ vằn vết thân/khoảng giãn cách là 1.3. Hơn nữa còn có vằn xương xương cùng màu nâu đậm, 11 vằn đuôi tối và 12 vằn đuôi sáng.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài sống ở những tảng đá granit lớn, thỉnh thoảng ở trên thân cây cao tới 2,5 m so với mặt đất, hoặc trên nền rừng ẩn trong đám lá rụng. Hầu hết các mẫu vật được ghi nhận trên bề mặt thẳng đứng của những tảng đá granit lớn hoặc trong các hang động giữa chúng. Thức ăn là những loài côn trùng trong khu vực phân bố. Con cái đẻ 2 trứng trong lớp thảm mục thực vật, hốc cây vào đầu mưa, giới tính con non hoàn toàn do nhiệt độ môi trường quyết định. Màu da của nó gần giống với màu vỏ cây nơi nó cư ngụ sẽ giúp ích cho việc ngụy trang với kẻ thù và bắt con mồi.
Phân bố:
Trong nước: Núi Cấm, tỉnh An Giang, Việt Nam.
Nước ngoài: Loài này còn ghi nhận vùng phân bố ở Thái Lan (Tỉnh Chanthaburi, Khao Yai), Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Ốc sứ bông
Tên tiếng Anh:Tortoise cowry
Tên Latin:Chelycypraea testudinaria
Thằn lằn ngón giả bốn vạch
Tên tiếng Anh:Four strips bent-toed gecko
Tên Latin:Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus
Thạch sùng garnot
Tên tiếng Anh:Garnot’s house gecko
Tên Latin:Hemidactylus garnoti
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae