Thằn lằn ngón sơn
| Tên tiếng Anh: | Son’s bent-toed gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Cyrtodactylus soni |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016 |
| Tên khác: | Thằn lằn ngón sơn |
- Độ cao so mặt nước biển 400 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm Ăn các loài ấu trùng, côn trùng sống trong khu vực sống
THẰN LẰN CHÂN NGÓN SƠN
Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước trung bình, dài thân lên đến 103 mm. Vảy gian mũi đơn. Nót sần ưng 10 – 13 hàng. Vảy bụng 41 – 45 hàng. Nếp lưng bên không đính nốt sần. Lỗ trước huyệt 6 hoặc 7 ở con đực, 7 hoặc 8 vảy lỗ ở con cái, xếp thành một hàng nối tiếp. Lỗ đùi 6 – 8 ở mỗi bên của con đực, tách biệt với lỗ trước huyệt bởi 8 – 11 vảy không lỗ. Có vảy đùi nở rộng. Cựa sau huyệt 2 hoặc 3. Vảy dưới đuôi nở rộng ngang. Màng da dưới ngón thứ Iv chân sau 18 – 22. Hoa văn lưng có một vạch gáy, một vằn cổ đứt gãy từng phần hoặc nối tiếp và 5 hoặc 6 vằn ngang thân không đều từ nách đến háng.
Cyrtodactylus soni khác các loài cùng Giống Cyrtodactylus khác bởi những đặc điểm sau:
Khác với các loài khác bởi có vảy đùi nở rộng so với không có ở các loài sau Cyrtodactylus angularis, Cyrtodactylus badenensis, Cyrtodactylus bobrovi, Cyrtodactylus buchardi, Cyrtodactylus chauquangensis, Cyrtodactylus cryptus, Cyrtodactylus grismeri, Cyrtodactylus nigriocularis, Cyrtodactylus otai, Cyrtodactylus pageli, Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus, Cyrtodactylus taynguyenensis,
Khác với các loài khác bởi có nhiều lỗ đùi đùi và trước huyệt hơn ở con đực (6 – 7+6 – 7+6 – 8) so với các loài sau Cyrtodactylus angularis (3), Cyrtodactylus condorensis (0 – 4), Cyrtodactylus martini (4), Cyrtodactylus nigriocularis (0 – 2), Cyrtodactylus oldhami (1 – 4), Cyrtodactylus quadrivirgatus (4), Cyrtodactylus takouensis (3 or 4), và không có ở Cyrtodactylus badenensis, Cyrtodactylus cucphuongensis, Cyrtodactylus eisenmanae, Cyrtodactylus grismeri.
Khác với các loài khác bởi có nhiều lỗ đùi và trước huyệt (hoặc vảy lỗ) hơn ở con cái (6 – 8+7 – 8+5 – 6) so với Cyrtodactylus angularis (3), Cyrtodactylus cucdongensis (4 – 6), Cyrtodactylus irregularis (0 – 6), Cyrtodactylus pageli (4), Cyrtodactylus quadrivirgatus (4); không có ở con cái của các loài Cyrtodactylus badenensis, Cyrtodactylus bidoupimontis, Cyrtodactylus bobrovi, Cyrtodactylus caovansungi, Cyrtodactylus cattienensis, Cyrtodactylus condorensis, Cyrtodactylus cryptus, Cyrtodactylus eisenmanae, Cyrtodactylus grismeri, Cyrtodactylus interdigitalis, Cyrtodactylus martini, Cyrtodactylus nigriocularis, Cyrtodactylus otai, Cyrtodactylus phuocbinhensis, Cyrtodactylus takouensis, Cyrtodactylus taynguyenensis, Cyrtodactylus thuongae, và Cyrtodactylus yangbayensis.
Khác với các loài khác bởi có ít lỗ đùi và trước huyệt hơn ở con đực (6 – 7+6 – 7+6 – 8) so với Cyrtodactylus darevskii (38 – 44), Cyrtodactylus phongnhakebangensis (32 – 42).
Khác với các loài khác bởi hoa văn lưng là vằn ngang khác với vệt hình thù vô định ở Cyrtodactylus bugiamapensis, Cyrtodactylus irregularis, Cyrtodactylus phuocbinhensis, Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus, Cyrtodactylus taynguyenensis, và Cyrtodactylus thuongae
Khác với các loài khác bởi lưng đều màu nâu ở Cyrtodactylus nigriocularis và sọc ở Cyrtodactylus oldhami, Cyrtodactylus quadrivirgatus.
Khác với loài Cyrtodactylus kingsadai bởi có ít hàng nốt sần lưng hơn (10 – 13 so với 17 – 23 ở Cyrtodactylus kingsadai).
Khác các loài sau bởi có nhiều hàng vảy bụng hơn (41 – 45 ) so với Cyrtodactylus badenensis (25 – 29), Cyrtodactylus bichnganae (30 – 31), Cyrtodactylus chauquangensis (36 – 38), Cyrtodactylus grismeri (33 – 38), Cyrtodactylus puhuensis (36), và Cyrtodactylus ziegleri (33 – 39).
Cyrtodactylus soni rất giống với loài Cyrtodactylus huongsonensis những nó có ít lỗ đùi và trước huyệt hơn (6 – 7+6 – 7+6 – 8 ở con đực so với 10+6+7 ở Cyrtodactylus huongsonensis) và có nhiều gai mí mắt hơn (31 – 33 so với 26 – 28 ở Cyrtodactylus huongsonensis).
Sinh học. sinh thái:
Mẫu vật được tìm thấy vào ban đêm từ 18:30 đến 21:00, trên các vách đá vôi và trong các kẽ đá, cách mặt đất khoảng 0,3 – 1,5 m, ở độ cao từ 17 – 28 m so với mực nước biển. Môi trường sống xung quanh bao gồm rừng núi đá vôi thứ sinh gồm các loại cây gỗ cứng vừa và nhỏ xen lẫn với cây bụi và dây leo. Nhiệt độ không khí dao động từ 25 đến 32,1oC và độ ẩm tương đối là 70 – 90%
Phân bố:
Trong nước: Loài mới phát hiện năm 2016. Sống trong các khu rừng núi đá vôi gần thôn Đa Hán, ở tọa độ 20o25.067’N, 105o51.467’E, xã Gia Hòa, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Loaài mới phát hiện năm 2016 và tên loài mới này được đặt để vinh danh đồng nghiệp và người bạn của chúng tôi, GS, TS Nguyễn Lân Hùng Sơn, Khoa Sinh học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Việt Nam nhằm ghi nhận sự hỗ trợ của Ông cho công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm cánh vàng viền đen
Tên tiếng Anh:
Tên Latin:Eurema hecabe
Giải khổng lồ
Tên tiếng Anh:Asian giant softshell turtle
Tên Latin:Pelochelys cantorii
Hải sâm lựu
Tên tiếng Anh:Pineapple sea cucumber
Tên Latin:Thelenota ananas
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae