TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Văn Chung

Thằn lằn ngón pù hù

Tên tiếng Anh: Pu Hu bent-toed gecko
Tên Latin: Cyrtodactylus puhuensis
Đồng danh: Cyrtodactylus puhuensis Nguyen et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus puhuensis Nguyen et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus puhuensis Nguyen et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus puhuensis Nguyen et al, 2014
Tên khác: Thằn lằn chân ngón phù hù
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN CHÂN NGÓN PÙ HÙ

Cyrtodactylus puhuensis Nguyen et al, 2014
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Đầu hóp, dài 9.53 mm, rộng 15 mm, phân rõ với cổ. Vảy môi trên 8, nối tiếp với một hàng vảy nhỏ trải dài đến góc mõm, vảy đầu tiên nối với vảy mũi. Vảy môi dưới 10. Vảy môi trên và dưới gần mõm nhất, vảy cằm rộng nhất. Vảy mõm lớn, rộng 3.27 mm, cao 2.4 mm, có nổi hột sần lõm xuống theo chiều dọc ở giữa, nối với mũi. Hai vảy gian mũi nối với nhau. Vảy cằm gần như hình tam giác, phía sau nối với hai vảy sau cằm mà nối với một cái khác và vảy môi dưới đầu tiên. Vảy họng nhở hơn vảy bụng. Vảy đầu nhỏ, nổi hột, có nốt sần rải rác ở vùng chẩm và thái dương. Mắt lớn, đường kính 5.85 mm, đồng tử dọc.vảy mi mắt trên lớn, phủ mắt ở phía trước, trên và sau. Màng nhĩ hình bầu dục, dài 1.9 mm, hướng xiên, nhỏ hơn mắt. Khoảng cách mắt mũi 7 mm, mắt mõm 8.83 mm, mắt màng nhĩ 6.27 mm, giữa hai mắt 8.06 mm, giữa hai mũi 2.4 mm.
Thân thon dài, dài 35.73 mm, có nếp bụng bên yếu. Vảy lưng nhỏ, nổi hột, không đồng nhất. Nốt sần lưng và bên thân tròn, mịn hoặc kết sừng, không xếp thành hàng. Nốt sần mặt lưng của đùi và mặt đáy của đuôi kết sừng và hình nón.Vảy bụng lớn, mịn, phẳng, khoảng 36 vảy ngang giữa thân.
Mặt lưng của chân có vảy nột hột và nốt sần hình nón kết sừng nhẹ. Màng da dưới đốt chân hẹp và không đều, lớn nhất ở khớp ngón. Màng khớp ngón khá phát triển ở đốt ngón, rộng như ngón. Màng dưới ngón thứ tư của chân trước 18 vàcủa chân sau 23. Không có màng bơi.
Chân trước dài 13.4 mm, chân sau 16 mm. Vảy trước huyệt lớn, phẳng và gối lên nhau. Khoảng 8 vảy lợp lớn dưới dãy 8 vảy trước huyệt xếp thành hình chữ Λ ở nơi sinh ra vảy trước huyệt có lỗ. Một dãy vảy đùi tương đối nở rộng ở mỗi bên của đùi trải rộng từ tám vảy trước huyệt. Nốt sần trước huyệt và lỗ đùi tiêu biến. Điôi có tiết diện tròn, dài 82.59 mm, dài hơn chiều dài thân. Vảy dưới đuôi ngang, kích thước bằng một nửa rộng đuôi.Mặt lưng của đuôi có nốt sần hình nón trải dài xuống đáy đuôi.
Lưng và mặt bên thân có màu nền đen sô – cô – la. Lưng có vết loang ngang màu vàng nhạt không đều và mờ. Nốt sần lưng ở vết ngang có màu vàng đến trắng, những cái khác màu như màu nền thân. Hông có nốt sần màu vàng đến trắng. Dầu màu nâu sẫm có hoa văn vàng. Mí mắt vàng. Mắt nâu có đồng tử dọc màu đen. Vạch gáy màu đen chocolate, bị vỡ viền ở gáy. Mặt trên của chân màu nâu sẫm, có màu vết loang hoặc vằn vàng đến trắng.
Đuôi không thể tái sinh có bảy vòng vằn màu đen và trắng đến vàng nối tiếp nhau. Vằn trắng hẹp hơn vằn đen. Mặt dưới của hông và chân màu trắng.
Cyrtodactylus puhuensis khác hình thái với các loài cùng giống ở Việt Nam bởi những điểm sau:
Khác Cyrtodactylus bidoupimontisCyrtodactylus bugiamapensisCyrtodactylus cattienensisCyrtodactylus datiCyrtodactylus huynhi và Cyrtodactylus ziegleri bởi có một hàng vảy dưới đuôi nở rộng và vảy đùi trước huyệt nối tiếp.
Vì có những dãy vảy đùi nở rộng nối tiếp vảy trước huyệt mà loài này khác các loài Cyrtodactylus badenensis, Cyrtodactylus caovansungi, Cyrtodactylus cucphuongensis, Cyrtodactylus eisenmanae, C. grismeri, C. huongsonensis, C. kingsadai, C. nigriocularis, C. takouensis
Hơn nữa, loài này khác các loài Cyrtodactylus badenensis, Cyrtodactylus cucphuongensis, Cyrtodactylus eisenmanae, Cyrtodactylus grismeri, và Cyrtodactylus nigriocularis ở chỗ có 5 lỗ trước huyệt (so với không có hoặc có 2 lỗ ở những loài cuối)
Khác Cyrtodactylus huongsonensis và Cyrtodactylus kingsadai bởi sự thiếu lỗ đùi (so với 17 ở Cyrtodactylus huongsonensis và 3 – 7 lỗ ở Cyrtodactylus kingsadai).
Khác Cyrtodactylus caovansungi và Cyrtodactylus bichnganae bởi thiếu lỗ đùi (so với 3 và 9 theo thứ tự ở hai loài) và có ít lỗ trước huyệt hơn (5 so với 9 và 10 theo thứ tự ở hai loài).
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát kiếm ăn đêm thường sống ở khu vực rừng thường xanh ở độ cao 638 m. Chỉ xuất hiện và kiếm ăn vào ban đêm. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực. Đẻ 2 trứng vào đầu mùa mưa hằng năm. Tên loài được đặt cho Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu.
Phân bố
Trong nước: Loài đặc hữu, mới phát hiện ở Việt Nam năm 2014. Loài này phân bố ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam và ở 20° 33’ Bắc, 104° 53’ Đông.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae