Thằn lằn ngón ota
| Tên tiếng Anh: | Ota’s bent-toed gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Cyrtodactylus otai |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus otai Nguyen et al, 2015 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus otai Nguyen et al, 2015 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus otai Nguyen et al, 2015 |
| Đồng danh: | Cyrtodactylus otai Nguyen et al, 2015 |
| Tên khác: | Thằn lằn chân ngón hang kia-pà cò |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Hòa Bình Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-Pà Cò, Hòa Bình
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Trong các khu vực hang động, hang đá Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
THẰN LẰN CHÂN NGÓN OTA
Cyrtodactylus otai Nguyen et al, 2015
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 86.8 mm. Thân thuôn dài, tách biệt bởi phần cổ thon, hóp. Vùng má lõm. Mõm dài, tròn ở phía trước, dàn hơn đường kính mắt. Vảy mõm nhỏ, tròn, nổi hột, rộng hơn những vảy trán và vùng chẩm. Mắt lớn. Đồng tử dọc. Rìa mí mắt trên có vảy gai. Màng nhĩ hình bầu dục, nhỏ. Mõm và môi trên ở cùng một bên. Vảy môi trên tách biệt với nhau bằng hai vảy nhỏ. Lỗ mũi tròn, được bao quanh bởi vảy mũi, vảy mõm, vảy môi trên đầu tiên và ba vảy dưới mũi. Cằm hình tam giác, hơi hẹp hơn mõm. Hai vảy sau cằm nở rộng, nối nhau ở phía sau, đường bao quanh bởi vảy cằm ở phía trước, vảy môi dưới đầu tiên ở mặt bên và một vảy cằm nở rộng ở phía sau. Vảy môi trên 9/9. Vảy môi dưới 9/9. Vảy lưng nổi hột, nốt sần lưng tròn, hình nón, xuất hiện ở vùng chẩm và lưng, mỗi cái được bao quanh bởi 8 – 9 vảy nột hột, xếp thành 12 – 13 hàng dọc không đều ở thân giữa. Vảy bụng mịn, vảy ở giữa lớn 2 hoặc 3 lần vảy lưng, tròn, lợp lên nhau, lớn nhất ở phía sau, xếp thành 42 – 43 hàng dọc giữa thân. Nếp da bên thân rõ, không có nốt sần. Vùng họng có vảy mịn đồng nhất. 180 vảy bụng giữa cằm và khe huyệt. Nốt sần trước huyệt tiêu biến. vảy đùi nở rộng tiêu biến. Hai hàng vảy nở rộng xuất hiện ở sau vùng vảy sinh lỗ. Lỗ đùi tiêu biến. 7 lỗ trước huyệt xếp thành một hàng nối tiếp, vảy sinh lỗ nở rộng. Chân trước và sau mảnh. Mặt lưng của chân trước được phủ một ít nốt sần phát triển. Mặt lưng chân sau cũng có nốt sần rõ. Ngón chân trước và ngón chân sau không có màng bơi. Mỗi móng vuốt được bao quanh bởi hai vảy. Số lượng màng mỏng dưới chân như sau:
Chân trước, ngón1 có 13 (4 màng mở rộng đáy), ngón II có 16 (5 màng nở rộng đáy), ngón III có 19 (7 màng nở rộng đáy), ngón IV có 19 (7 màng nở rộng đáy), ngón V có 18 (6 màng nở rộng đáy).
Chân sau, ngón I có 14 (5 màng nở rộng đáy), ngón II có 18 (7 màng nở rộng đáy), ngón III có 20 (8 màng nở rộng đáy), ngón IV có 22 (9 màng nở rộng đáy), ngón V có 21 (8 màng nở rộng).
Đuôi hoàn thiện, dài 97.6 mm. Nốt sần sau huyệt 3/3. Đáy của đuôi lưng có nốt sần rõ. Vảy dưới đuôi nở rộng nhẹ, phẳng, mịn.
Màu sắc tiêu bản: Đầu lưng và thân có màu nền là kem xám đen, Một vết nâu sẫm hẹp xuất hiện ở vùng mõm. Mặt lưng của đầu có hoa văn nâu, hình bầu dục, cong và hình thoi. Một sọc đậm trải dài từ sau góc mắt ra sau đến trên màng nhĩ, hình thành một vạch gáy loang viền về sau. Vảy môi màu nâu có khe hở màu kem. Cổ có vết thâm lớn, hình thành một vệt không liên tục. Lưng có sáu vằn nâu viền trắng ngang trong khoảng thân giữa cách nách chân trước và chân sau. Mặt lưng của chân trước và chân sau có vằn và đốm thâm. Đuôi có màu kem xám với chín vằn nâu đậm. Cằm, ngực, họng, bụng và mặt dưới của chân có màu kem. Mặt bụng của đuôi màu xám có vết nâu. Con cái khác con đực ở sự thiếu lỗ trước huyệt và cơ quan sinh dục đôi ở phía đáy đuôi.
Cyrtodactylus otai khác hình thái với các loài cùng giống ở Việt Nam bởi những điểm sau:
Khác Cyrtodactylus bidoupimontis bởi sự thiếu vảy đùi nở rộng (so với 6 – 8 vảy ở Cyrtodactylus bidoupimontis) và nhiều lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 lỗ so với 4 – 6 lỗ)
Khác Cyrtodactylus bugiamapensis ở kích thước từ mút mõm đến lỗ huyệt lớn hơn (85.2 – 90.6 mm so với 58.6 – 76.8 mm), thiếu vảy đùi nở rộng (so với 6 – 10 vảy ở Cyrtodactylus bugiamapensis), xuất hiện lỗ trước huyệt ở con cái (so với 0 – 7 lỗ ở in Cyrtodactylus bugiamapensis) và sự khác nhau ở hoa văn màu lưng (vệt vằn ngang thân so với vết loang dọc thân)
Khác Cyrtodactylus cattienensis ở kích thước từ mút mõm đến lỗ huyệt dài hơn (85.2 – 90.6 mm so với 43.5 – 69.0 mm) và sự thiếu vảy đùi nở rộng (so với 3 – 8 vảy ở loài Cyrtodactylus cattienensis)
Khác Cyrtodactylus cucdongensis bởi kích thước từ mút mõm đến lỗ huyệt dài hơn (85.2 – 90.6 mm so với 55.8 – 65.9 mm), sự thiếu vảy đùi nở rộng (so với có ở Cyrtodactylus cucdongensis), nhiều lỗ trước huyệt ở con đực hơn (7 – 8 so với 5 – 6 lỗ), sự không có lỗ trước huyệt ở con cái (so với 4 – 6 lỗ ở Cyrtodactylus cucdongensis), có nhiều màng da dưới ngón IV chân trước hơn (16 – 19 so với 8 – 11)
Khác Cyrtodactylus huynhi bởi kích thước từ mút mõm đến lỗ huyệt dài hơn (85.2 – 90.6 mm so với54.8 – 79.8 mm), có ít hàng vảy bụng hơn (38 – 43 hàng so với 43 – 46 hàng), sự thiếu vảy đùi nở rộng (so với có 3 – 5 vảy) vàkhông có lỗ đùi (so với 3 – 8 lỗ)
Khác Cyrtodactylus thuongae bởi chiều dài thân (85.2 – 90.6 mm so với 57.3 – 77.6 mm), không có vảy đùi nở rộng (so với 2 – 5 vảy ở in Cyrtodactylus thuongae), có nhiều lỗ trước huyệt ở con đực hơn (7 – 8 so với 0 – 1) và sự khác nhau của hoa văn lưng (vằn ngang so với vết loang dọc).
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát kiếm ăn đêm thường sống ở khu vực rừng thường xanh núi đá vôi ở độ cao 800 đến 1.232m m. Chỉ xuất hiện và kiếm ăn vào ban đêm. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực. Đẻ 2 trứng vào đầu mùa mưa hằng năm. Loài mới được đặt tên để vinh danh Giáo sư Tiến sĩ Hidetoshi Ota, Viện Khoa học Tự nhiên và Môi trường, Đại học Hyogo, Nhật Bản, nhằm ghi nhận những đóng góp nổi bật của ông đối với hệ thống học về Tắc kè.
Phân bố
Trong nước: Loài đặc hữu, mới phát hiện ở Việt Nam năm 2014. Loài này phân bố ở rừng núi đá vôi gần thôn Hang Kia (20°44.347’N, 104°53.392’E, cao độ 1.232 m so với mực nước biển), xã Hang Kia, thuộc Hang Kia – Khu bảo tồn Pa Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Tây bắc Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cóc mày sung
Tên tiếng Anh:Sung toad
Tên Latin:Leptolalax sungi
Bướm báo hoa vàng
Tên tiếng Anh:Leopard Lacewing Butterfly
Tên Latin:Cethosia cyane
Nhái bén nâu
Tên tiếng Anh:Assam treefrog
Tên Latin:Hyla annectans
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae