TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn ngón cực đông

Tên tiếng Anh: Cuc Dong bent-toed gecko
Tên Latin: Cyrtodactylus cucdongensis
Đồng danh: Cyrtodactylus cucdongensis Schneider et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus cucdongensis Schneider et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus cucdongensis Schneider et al, 2014
Đồng danh: Cyrtodactylus cucdongensis Schneider et al, 2014
Tên khác: Thằn lằn chân ngón cực đông
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN CHÂN NGÓN CỰC ĐÔNG

Cyrtodactylus cucdongensis Schneider et al, 2014
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài này thằn lằn ngón mới có đặc điểm hình thái gần giống với loài Thằn lằn ngón cát tiên Cyrtodactylus catienensis. Một loài mới được phát hiện ở Vườn quốc gia Cát Tiên tỉnh Đồng Nai vào năm 2010. Tuy nhiên, một số đặc điểm nhận dạng cũng như so sánh về sinh học phân tử cho thấy có khác biệt giữa hai loài này. Kích thước trung bình, đuôi dài hơn thân, chiều dài đầu và thân tới 65,9 mm, trên lưng có các đốm màu nâu nhạt, vùng gáy có các vệt sẫm màu nhưng không nối liền với nhau. Thân có màu nâu nhạt với một vệt sẫm màu sau gáy và 4 vệt sẫm màu ngang thân, có một vảy gian mũi, 16 – 19 hàng vảy lưng; 41 – 44 hàng vảy bụng. Con đực có 6 – 8 lỗ trước huyệt xếp liền nhau tạo thành góc. Cả con đực và con cái đều có một đám vảy lớn nằm ở vùng trước huyệt và 3 – 8 vảy lớn nằm ở phía dưới mỗi bên đùi. Không có lỗ đùi và rãnh trước huyệt. Cả con đực và cái đều có 2 hoặc 3 gai nhỏ màu trắng sau huyệt. 14 – 19 nếp da dưới ngón chân sau thứ tư. Vảy ở gốc đuôi xếp vòng, không nở rộng.
Cyrtodactylus cucdongensis khác các loài cùng giống Cyrtodactylus ở những đặc điểm sau:
Khác với loài Cyrtodactylus otai bởi kích thước từ mút mõm đến lỗ huyệt ngắn hơn (85.2 – 90.6 mm so với 55.8 – 65.9 mm Cyrtodactylus cucdongensis), sự thiếu vảy đùi nở rộng (so với có ở Cyrtodactylus cucdongensis), nhiều lỗ trước huyệt ở con đực hơn (7 – 8 so với 5 – 6 lỗ), sự không có lỗ trước huyệt ở con cái (so với 4 – 6 lỗ ở Cyrtodactylus cucdongensis), có nhiều màng da dưới ngón IV chân trước hơn (16 – 19 so với 8 – 11).
Khác với loài Cyrtodactylus chungi bởi kích thước lớn hơn (chiều dài thân 66.6 – 68.5 so với 55.8 – 65.9 mm Cyrtodactylus cucdongensis), ít hàng vảy bụng hơn (30 – 31 so với 35 – 44) và ít vảy đùi nở rộng hơn (4 – 6 so với 5 – 9).
Khác với loài Cyrtodactylus orlovi bởi có ít hàng vảy bụng hơn (36 – 39 so với 41 – 44 ở Cyrtodactylus cucdongensis), không có vảy sinh lỗ trước huyệt ở con cái (so với 4 – 6 vảy ở Cyrtodactylus cucdongensis), vằn nâu sang nâu đậm lưng rõ hơn của Cyrtodactylus cucdongensis.
Khác với loài Cyrtodactylus arndti bởi có kích thước lớn hơn (dài thân 73.4 – 80.9 mm so với 55.8 – 65.9 mm ở Cyrtodactylus cucdongensis), ít hàng vảy bụng hơn (26 – 38 so với 41 – 44 ở Cyrtodactylus cucdongensis), nhiều màng da dưới ngón đầu tiên chân sau hơn (11 – 14 so với 8 – 11 ở Cyrtodactylus cucdongensis), có vảy dưới đuôi nở rộng ngang so với không có ở Cyrtodactylus cucdongensis.
Khác với loài Cyrtodactylus sangi bởi kích thước nhỏ hơn (dài thân 56.3 so với 65.9 mm), vảy lưng nhiều hơn (19 – 21 so với 16 – 19), vảy bụng ít hơn (37 vs. 41 – 44), nhiều lỗ trước huyệt ở con đực hơn (7 so với 5 – 6), ít vảy đùi nở rộng hơn (4 so với 5 – 9).
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát kiếm ăn đêm thường sống ở khu vực rừng thường xanh ven biển nơi có nhiều những tảng đá mẹ xếp chồng lên nhau và chỉ xuất hiện vào ban đêm. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực. Đẻ 2 trứng vào đầu mùa mưa hằng năm. Tên loài được đặt theo vùng phân bố đã phát hiện.
Phân bố
Trong nước: Loài đặc hữu của Việt Nam, mới phát hiện ở mũi Cực Động thuộc tỉnh Khánh Hòa năm 2014 và sống chung sinh cảnh với loài Gekko truongi.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae