Thằn lằn ngón côn đảo
| Tên tiếng Anh: | Con Dao bent-toed gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Cyrtodactylus condorensis |
| Đồng danh: | Gymnodactylus condorensis Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Gymnodactylus condorensis Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Gymnodactylus condorensis Smith, 1921 |
| Đồng danh: | Gymnodactylus condorensis Smith, 1921 |
| Tên khác: | Thằn lằn chân ngón côn đảo |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
THẰN LẰN CHÂN NGÓN CÔN ĐẢO
Cyrtodactylus condorensis (Smith, 1921)
Gymnodactylus condorensis Smith, 1921
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài thân tối đa 69 mm; có một vạch đen ở gáy, kéo dài tới mép sau ổ mắt; thân, đuôi và chân có những vạch nhỏ, không xếp theo trình tự: 4-6 vạch sáng màu trên thân và 4 – 12 vạch trắng trên đuôi; nốt sần trên lưng xếp thành 16 – 22 dọc thân; 28 – 42 hàng vảy bụng ở ngang giữa thân; nếp da gấp bên sườn không phát triển hoặc biến mất, không có các nốt sần lớn; đuôi không dẹp, phần gốc đuôi không phình to, vảy sắp xếp thành dạng vòng; con đực có 6 – 8 lỗ trước hậu môn xếp liền nhau tạo thành góc tù; cả con đực và cái đều có một đám vẩy lớn nằm ở vùng trước hậu môn và có 3 – 8 vảy lớn nằm ở phía dưới mỗi bên đùi; không có lỗ đùi, không có rãnh trước hậu môn; vảy dưới đuôi nhỏ, không phình rộng theo chiều ngang.
Cyrtodactylus condorensis khác các loài cùng Giống Cyrtodactylus bởi những đặc điểm sau:
Khác với loài Cyrtodactylus puhuensis bởi sự phân bố lỗ trước huyệt (xếp theo hình chữ V so với 4 – 7 lỗ xếp thành hai hàng liền kề) và nốt sần lưng (mượt hoặc kết sừng nhẹ so với kết chỏm tam giác).
Khác với loài Cyrtodactylus takouensis bởi hoa văn vằn xen kẽ tối sáng, còn loài kia là những đốm hoặc vằn không theo quy luật.
Khác các loài Cyrtodactylus phumyensis bởi có vảy dưới đuôi nở rộng ngang.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài phân bố rất rộng, sống ở những khu rừng mưa nhiệt đới trên các đảo, trong nhà, ở các nơi có nhiều hốc đá hay các tảng đá mẹ ven biển và ở những nơi có độ cao tương đối. Hoạt động, kiếm ăn về đêm, cạnh các nơi ẩn náu, rình mồi ở các vách đá. Thức ăn là những loài côn trùng trong khu vực phân bố. Con cái đẻ 2 trứng trong lớp thảm mục thực vật, hốc cây vào đầu mưa, giới tính con non hoàn toàn do nhiệt độ môi trường quyết định. Màu da của nó gần giống với màu vỏ cây nơi nó cư ngụ sẽ giúp ích cho việc ngụy trang với kẻ thù và bắt con mồi.
Phân bố:
Trong nước: Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo), Cà Mau (đảo Hòn Khoai), Kiên Giang (đảo Hòn Tre, Hòn Sơn).
Nước ngoài: Loài này còn ghi nhận vùng phân bố ở Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm đuôi kiếm bốn vạch
Tên tiếng Anh:Fourbar swordtail
Tên Latin:Graphium agetes
Tuế rỉ sắt
Tên tiếng Anh:Rusty cycad
Tên Latin:Cycas ferruginea
Rắn đẻn vảy bụng không đều
Tên tiếng Anh:Viperine sea snake
Tên Latin:Hydrophis viperinus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae