TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn chân lá xiêm

Tên tiếng Anh: Siamese leaf-toed gecko
Tên Latin: Dixonius siamensis
Đồng danh: Phyllodactylus siamensis Boulenger 1899
Đồng danh: Phyllodactylus paviei Mocquard 1904
Đồng danh: Phyllodactylus burmanicus Annandale 1905
Đồng danh: Phyllodactylus siamensis Smith 1935
Tên khác: Thằn lằn chân lá xiêm
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN CHÂN LÁ XIÊM

Dixonius siamensis (Boulenfer, 1899)
Phyllodactylus siamensis Boulenger 1899
Phyllodactylus paviei Mocquard 1904
Phyllodactylus burmanicus Annandale 1905
Phyllodactylus siamensis Smith 1935
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài thằn lằn có kính thước trung bình, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 52 – 57 mm. Xuất hiện lỗ trước huyệt. Lưng có nốt sần, giảm chiều dài đốt thứ hai của ngón IV chân trước và móng rẽ đôi là đặc trưng khiến nó khác với các loài Thằn lằn chân lá khác.
Dixonius siamensis khác các loài cùng Giống Dixonius khác ở những đặc điểm sau:
Khác với loài Dixonius minhle bởi kích thước lớn hơn (dài thân lớn nhất 47.5 mm so với 57 mm ở Dixonius siamensis), nhiều lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 so với 6 – 7 ở Dixonius siamensis) và có sọc khoé mắt (so với không có ở Dixonius siamensis).
Khác với loài Dixonius aaronbaueri bởi kích thước lớn hơn (dài thân lớn nhất 38.6 mm so với 57 mm ở Dixonius siamensis), ít lỗ trước huyệt hơn (5 so với 6 – 7 ở Dixonius siamensis).
Khác với loài Dixonius siamensis bởi kích thước lớn hơn (dài thân lớn nhất 44 mm so với 57 mm ở Dixonius siamensis), có sọc khoé mắt rõ (so với không có ở Dixonius siamensis).
Sinh học, sinh thái:
Loài này phân bố khá rộng và sống trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau, từ các khu rừng khộp đến các khu vực rừng trong các dãy núi ở miền Tây nam bộ. Chúng rất nhanh nhẹn và chui rúc dưới lớp thảm mục thực vật nên rất khó thấy. Thức ăn là những loài ấu trùng của các loài mối, kiến trong khu vực phân bố. Đẻ 2 trứng dưới lớp thảm mục thực vật vào đầu mùa mưa. Tên loài được đặt theo vùng phân bố.
Phân bố:
Trong nước: Loài phân bố rộng ở hầu khắp các tỉnh Tây Ninh đến An Giang Việt Nam
Nước ngoài: Thailand, Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae