Thằn lằn chân lá minh
| Tên tiếng Anh: | Minh’s leaf-toed gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Dixonius minhlei |
| Đồng danh: | Dixonius minhlei Ziegler et al., 2016 |
| Đồng danh: | Dixonius minhlei Ziegler et al., 2016 |
| Đồng danh: | Dixonius minhlei Ziegler et al., 2016 |
| Đồng danh: | Dixonius minhlei Ziegler et al., 2016 |
| Tên khác: | Thằn lằn chân lá trị an |
- Độ cao so mặt nước biển 500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
THẰN LẰN CHÂN LÁ MINH
Dixonius minhlei Ziegler et al., 2016
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Là loài thằn lằn có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 47.5 mm. 7 – 9 vảy môi trên. 14 – 15 hàng nốt sần có gờ trên lưng. 20 – 23 hàng vảy bụng. 7 hoặc 8 lỗ trước huyệt ở con đực. Một sọc khoé mắt chạy từ mõm qua mắt và kết thúc ở sau đầu. Cặp vảy mặt bên thứ hai của vảy sau cằm có kích thước bằng ¼ cặp đầu tiên. Lưng màu xám ô lưu, có ít hoặc nhiều đốm ô lưu nâu rõ
Dixonius minhlei khác các loài cùng Giống Dixonius khác ở những đặc điểm sau:
Khác với loài Dixonius aaronbaueri bởi có nhiều hàng vảy bụng hơn (20 – 23 so với 18 – 19 ở Dixonius aaronbaueri), nhiều hàng nốt sần lưng hơn (14 – 15 so với 11 ở Dixonius aaronbaueri), nhiều lỗ trước huyệt hơn ở con đực (7 – 8 so với 5 ở Dixonius aaronbaueri) và khác hoa văn (màu nền xám ô lưu trên lưng, có đốm ô lưu nâu rõ so với lưng không có hoa văn ở loài Dixonius aaronbaueri).
Khác với loài Dixonius hangseesom bởi có ít hàng vảy bụng hơn (20 – 23 so với 22 – 26 ở Dixonius hangseesom); nhiều hàng nốt sần lưng hơn (14 – 15 so với 12 – 14 ở Dixonius hangseesom) và màu của đuôi giống lưng (so với đuôi màu cam ở Dixonius hangseesom).
Khác với loài Dixonius melanostictus bởi có nhiều hàng nốt sần lưng hơn (14 – 15 so với 10 – 11 ở Dixonius melanostictus), ít lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 so với 9 ở Dixonius melanostictus) và có sọc khoé mắt nối sau mắt đến sau đầu (so với sọc khoé mắt trải dọc eo ở Dixonius melanostictus).
Khác với loài Dixonius siamensis bởi kích thước nhỏ hơn (dài thân lớn nhất 47.5 mm so với 57 mm ở Dixonius siamensis), nhiều lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 so với 6 – 7 ở Dixonius siamensis) và có sọc khoé mắt (so với không có ở Dixonius siamensis).
Khác với loài Dixonius taoi bởi có nhiều lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 so với 5 – 6 ở Dixonius taoi) và khác hoa văn (màu nền xám ô lưu trên lưng, có đốm ô lưu nâu rõ so với có một hoặc hai hàng đốm không đều chạy từ đầu dọc theo eo ở Dixonius taoi).
Khác với loài Dixonius vietnamensis bởi có nhiều lỗ trước huyệt hơn (7 – 8 so với 5 – 7 ở Dixonius vietnamensis) và khác hoa văn mặt lưng của đầu và thân (đốm tròn trên lưng và đầu rõ hoặc mờ. so với vằn ngang đậm ở chẩm và đốm không đều hoặc mắt lưới ở trên lưng của Dixonius vietnamensis).
Sinh học, sinh thái:
Sống chui rúc ban ngày dưới các lớp thảm mục thực vật ở các khu rừng thường xanh đất thấp dưới 200m. Kiếm ăn và hoạt động ban đêm, thức ăn là những loài ấu trùng Mối hoặc Kiến sống trong khu vực phân bố. Con cái đẻ 2 trứng ở gốc cây dưới lớp thảm mục thực vật vào đầu mùa mưa. Loài mới được phát hiện và công bố năm 2016 và được đặt theo tên người bạn và đồng nghiệp của chúng tôi, Tiến sĩ Lê Đức Minh từ Khoa Khoa học Môi trường, Đại học Khoa học Hà Nội, Đại học Quốc gia Việt Nam, vì những đóng góp liên tục và quan trọng của ông trong việc hiểu rõ hơn về sự đa dạng và các mối quan hệ phát sinh gen các loài ở Việt Nam.
Phân bố:
Trong nước: Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Bình Phước và Vườn quốc gia Lò Gò – Sa Mác, Tây Ninh.
Nước ngoài: Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Sam đuôi tam giác
Tên tiếng Anh:Chinese horseshoe crab
Tên Latin:Tachypleus tridentatus
Cầy tai trắng
Tên tiếng Anh:Small-toothed palm civet
Tên Latin:Arctogalidia trivirgata
Bướm cỏ đốm xanh
Tên tiếng Anh:Ceylon blue glassy tiger
Tên Latin:Ideopsis similis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae