TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn chân lá hòn chông

Tên tiếng Anh: Mekong leaf-toed gecko
Tên Latin: Dixonius luuhoangorum
Đồng danh: Dixonius siamensis Grismer et al., 2007
Đồng danh: Dixonius luuhoangorum Grismer, Neang, Tri & Grismer, 2025
Đồng danh: Dixonius siamensis Grismer et al., 2007
Đồng danh: Dixonius luuhoangorum Grismer, Neang, Tri & Grismer, 2025
Tên khác: Thằn lằn chân lá lưu hoàng
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN CHÂN LÁ HÒN CHÔNG

Dixonius luuhoangorum Grismer, Neang, Tri & Grismer, 2025
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Con đực trưởng thành, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 48.5 mm. Dài đuôi 50 mm. Dài nách-háng 21.7 mm. Đầu dài hơn rộng, hóp, phân biệt với cổ. Dàu đầu 13.6 mm. Rộng đầu 8.6 mm. Đường kính mắt 2.7 mm. Viền tai xiên, dài 1.7 mm. Khoảng cách mắt mõm 5 mm. Gian mũi 1.6 mm. Vảy môi trên 7 (sáu cái ở giữa phía dưới mắt). Lỗ mũi chạm vảy mõm, vảy môi trên đầu tiên, vảy trên mũi, hai vảy sau mũi ở mỗi bên. Vảy trên mũi nối rộng. Không có vảy giữa các vảy trên mũi. Mõm phẳng, được phủ bởi các vảy có gờ yếu nổi hột. Các vảy trên đỉnh đầu có gờ nôit hột yếu, trộn với những nốt sần có gờ nhỏ. Con ngươi nằm dọc. Viền tai xiên, hình bầu dục, không được bao quanh bởi các vảy nở rộng. Vảy môi dưới 6, giảm kích thước dần về phía sau. 2 cặp vảy sau cằm nở rộng, cặp đầu tiên nối với nhau ở khoảng 60% chiều dài của nó, mỗi cái được bao quanh mặt bên bởi một vảy môi dưới nở rộng đơn. Vảy họng phẳng, xếp gần lợp nhau ra phía sau thành vảy ức lợp lớn hơn và vảy bụng lợp lớn hơn. Thân hơi dẹt mặt lưng bên. Hàng nốt sần lưng ở giữa gần 16 nốt, có gờ, các nốt bên xương sống tách nhau bởi 3-5 vảy phẳng nhỏ hơn. 25 vảy vảy bên xương sống giữa các chỗ mọc chân. Vảy bụng hơn hơn vảy lưng, xếp thành 14 hàng giữa thân. Mặt lưng của chân được phủ bởi các vảy có gờ yếu đến phẳng. Mặt dưới của chân trước có vảy nổi hột nhỏ. Mặt lưng của chân sau được phủ bởi các vảy có gờ lớn. Mặt dưới của chân sau có các vảy nở rộng, phẳng, xếp lợp đột ngột chuyển thành vảy sau đùi. Các ngón chân gần như ngắn.
Tất cả các màng da dưới ngón đều nở rộng ngang. Màng ngoài cùng chia đôi, hơi nở rộng hình thành đệm ngón chân sau nhỏ. 13 màng da dưới ngón thứ tư chân sau. 10 màng da dưới ngón thứ tư chân trước. 8 lỗ nối tiếp trên các vảy trước huyệt xếp thành hình tam giác. 2 nốt sần sau huyệt nở rộng ở mỗi bên ở đáy đuôi. Vảy đuôi phẳng, có gờ rất yếu ở phía trước. Các vảy dưới đuôi phẳng, hàng ở giữa nở rộng ngang. Màu sắc trong trạng thái ngâm cồn: Màu nền của mặt lưng của đầu, thânm chân và đuôi là màu xám đến nâu sáng. Không có vằn rõ ở môi. Có sọc sóng mũi sẫm chạy từ mũi đến mắt. Con ngươi màu vàng có các đốm đen đỏ. Đỉnh đầu có các vệt thâm hình dáng không theo quy luật, có vệt chữ V gần vùng chẩm. Vệt thâm ở gáy, được theo sau bởi hai vệt ven xương sống. Lưng có các vết thâm kích thước khác nhau, những vết này ở vùng hông sườn có hàng chữ U. Các vệt lưng kết thúc ở vùng xương cụt nhưng mở rộng trên đuôi như một dãy vằn nửa ngang trong suốt đứt đoạn. Các dãy năm vảy có gờ nhạt màu ở hông sườn được bao viền phía bụng bởi các vết thâm bắt đầu ở vùng nách chạy xuống chiều dài đuôi, kết thúc ở 5 vệt lớn hơn. Các chân trước và chân sau có các đốm thâm giãn cách. Vùng họng và ngực có màu be, có đốm nhạt. Các đốm rõ hơn ở mặt dưới của chân và bụng. Vùng dưới đuôi màu xám.
Sinh học, sinh thái:
Loài mới được tìm thấy trong các khu rừng thường xanh trên đảo xa bờ ở Việt Nam ở tọa độ (10.145788°N – 104.601846°E, độ cao 16 m. Thức ăn các loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Đẻ trứng trong các đám lá mục trong rừng vào đầu mùa mưa hàng năm.
Phân bố:
Trong nước: Khu vực đảo Hòn Chông thuộc tỉnh Kiên Giang.
Nước ngoài: Campuchia.
Giá trị:
Loài đặc hữu Đông Dương và được đặt tên để vinh danh Tiến sĩ Lưu Quang Vinh, Hoàng Thị Tươi giảng viên đại học Lâm nghiệp Việt Nam vì những đóng góp của ông trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam. Là loài có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở Khu vực đảo Hòn Chông thuộc tỉnh Kiên Giang. Là đảo tiền tiêu nên ít bị xâm hại và sinh cảnh được bảo vệ tốt.
Biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của thị trường nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae