TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn bóng browing

Tên tiếng Anh: Bowring's supple skink
Tên Latin: Subdoluseps bowringii
Đồng danh: Lygosoma bowringii Peter Geissler et al., (2012)
Đồng danh: Riopa bowringii V. Bobrov & Dmitry V. Semenov (2008)
Đồng danh: Lygosoma bowringii Peter Geissler et al., (2012)
Đồng danh: Riopa bowringii V. Bobrov & Dmitry V. Semenov (2008)
Tên khác: Thằn lằn bóng bụng vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN BÓNG BROWING

Subdoluseps bowringii Albert Charles Lewis Günther, 1864
Lygosoma bowringii Peter Geissler et al., (2012)
Riopa bowringii V. Bobrov & Dmitry V. Semenov (2008)
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài thằn lằn bóng có kích thước nhỏ. Chiều dài thân 45,15 – 47, 53 mm, chiều dài đuôi 29,54 – 45,40 mm. Có 2 tấm trán đỉnh. Tấm gian đỉnh nằm giữa 2 tấm đỉnh và 2 tấm trán đỉnh, 2 tấm má, tấm thứ nhất cao và dẹp hơn tấm thứ 2. Lỗ mũi nằm giữa tấm mũi đơn. Có 28 – 30 hàng vảy bao quanh than, nhẵn. Có 7 tấm mép dưới, 8 tấm mép trên ở mỗi bên. Có 3 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất và thứ 2 chạm nhau, cặp thứ 3 phân cách nhau bởi 1 vảy nhỏ. Có 10 bản mỏng dưới ngón I chi trước, 15 – 16 bản mỏng dưới ngón IV chi sau.
Phần trên thân màu nâu bóng. Hai bên phía trên thân có 2 vệt màu đen hẹp chạy từ sau tấm trên mắt đến phía trên gốc đuôi ở mỗi bên. Hai bên thân với 2 vệt màu đen thẫm, rộng hơn 2 vệt trên lưng. Phần từ sau mắt đến vai, hai bên sườn, gốc đuôi và đuôi xen lẫn màu hồng hay vàng cam. Cằm và họng màu trắng đục với các nột đen li ti ở hai bên vảy. Hai bên sườn và bụng màu nâu vàng.
Lygosoma browringii khác với loài các loài cùng Giống Lygosoma ở những đặc điểm sau:
Khác với loài Lygosoma quadrupes, bởi có kích thước nhỏ hơn dài thân Lygosoma quadrupes 66.8 – 78.3 mm so với lớn nhất là 53 mm ở Lygosoma bowringii), khoảng cách nách háng dài hơn (47.9 – 61.0 mm Lygosoma quadrupes so với dài nhất là 28.0 mm ở Lygosoma bowringii), số hàng vảy từ nách đến háng nhiều hơn (99 – 101 ờ Lygosoma quadrupes so với lớn nhất là 46 ở Lygosoma bowringii) và số hàng vảy bên nhiều hơn (117 – 121 ở Lygosoma quadrupes so với lớn nhất là 89 ở Lygosoma bowringii)
Khác với loài Lygosoma quadrupes bởi có ít màng da dưới ngón thứ ba chân trước hơn (5 hoặc 6 so với >7), có ít màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (6 hoặc 7 so với >8)
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu của loài này là các loài côn trùng và ấu trùng sống trong khu vực sinh sống. Chúng chui rúc trong chỗ đất xốp có nhiều lá rụng trong rừng, nơi lòng suối cạn, các khu vườn và ở những môi trường tự nhiên khác từ các khu vực ven biển đến độ cao 1.500m. Con cái đẻ từ 2 – 4 trứng.
Phân bố:
Trong nước: Thừa Thiên Huế (Bạch Mã) đến Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Bảy núi ở An Giang …
Nước ngoài: Loài thằn lằn nhỏ này phân bố ở nhiều nơi thuộc Đông Nam châu Á
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae