TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn bóng hai màu

Tên tiếng Anh: Forest-dwelling ground skink
Tên Latin: Scincella ochracea
Đồng danh: Leiolopisma ochraceum Bourret, 1937
Đồng danh: Scincella melanosticta Darevsky, 1986
Đồng danh: Leiolopisma ochraceum Bourret, 1937
Đồng danh: Scincella melanosticta Darevsky, 1986
Tên khác: Thằn lằn bóng đào hang
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN BÓNG HAI MÀU

Scincella ochracea (Bourret, 1937)
Leiolopisma ochraceum Bourret, 1937
Scincella melanosticta Darevsky, 1986
Họ: Thằn lằn bóng Scincidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Con đực có chiều dài thân 34.2 – 45.4 mm, dài đuôi 61.8 – 75.0 mm. Con cái, dài thân 43.2 – 50.0 mm, dài đuôi 63.9 mm. Đầu dài hơn rộng. Vảy mõm rộng hơn cao. Không có vảy trên mũi. Các vảy trước trán nối với nhau. Các vảy chẩm nối với nhau phía sau. Vảy gáy nở rộng 0 – 3 cặp. Vảy má 2. Vảy mi mắt trên 7 hoặc 8. Vảy trên mắt 4, theo sau bởi hai vảy nhỏ. Vảy thái dương thứ nhất 2. Vảy thái dương thứ hai 2, vảy trên lớn và được gối bởi vảy dưới. Vảy môi trên 7 (hiếm khi trong đó vảy thứ năm và sáu ngay dưới mắt. Viền tai có 3 hoặc 4 thùy lồi. Màng nhĩ chìm sâu. Vảy cằm rộng hơn dài. Vảy môi dưới 6( hiếm khi 5). Vảy sau cằm không chia đôi. Vảy giữa thân 30 – 32 hàng. Vảy lưng giữa các sọc bên xếp thành 1⁄2 + 6 + 1⁄2 hàng mịn. Vảy ven xương sống 61 – 67. Vảy bụng 66 – 71 hàng ngang mịn. Vảy trước huyệt 2, nở rộng. Vảy dưới đuôi nở rộng ở giữa. Chân ngắn, năm ngón. Ngón chân trước và chân sau tách xa nhau khi gập thân. Màng da dưới ngón thứ tư chân trước 9 – 11 , dưới ngón thứ tư chân sau 15 – 17 Màu trong cồn: Lưng màu xám bạc, có sọc xương sống đậm. Vùng mặt bên phía trên có vằn đỏ rõ từ sau mắt đến chân sau, có đốm sáng màu. Mép dưới vỡ ra thành những đốm đen nhỏ. Mặt bụng của thân và đuôi màu kem hoặc trắng.
Scincella ochracea khác với các loài cùng Giống Scincella khác ở các đặc điểm sau:
Khác với loài Scincella baraensis bởi có nhiều vảy thái dương phía trước nở rộng hơn (1 so với 2), ít màng da dưới ngón thứ IV (12 hoặc 13 so với 9 – 11), ít hàng vảy lưng hơn (8 so với 6), có (so với không có) sọc xương sống.
Khác với loài Scincella badenensis bởi có nhiều cặp vảy gáy hơn (0 – 1 so với 3), có (so với không có 2 – 4) thùy vành tai, hàng vảy lưng hơn giữa những sọc lưng bên (10 so với 8), vảy môi trên 5 – 6 (so với 5) dưới mắt và có (so với không có) vảy dưới đuôi nở rộng ngang.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này sống trong các hang hốc đá mẹ và dưới các lớp thảm mục thực vật ở rừng thường xanh và cả các khu rừng phục hồi sau nương rẫy ở độ cao thấp đến 800m. Thức ăn là các loài côn trùng, chân đốt sống trong các khu vực phân bố, kiếm ăn ban ngày, khá nhút nhát. Đẻ 2 trứng trong hốc cây hoặc dưới lớp thảm mục thực vật.
Phân bố:
Trong nước: Sơn La, Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae