TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thằn lằn bay đốm

Tên tiếng Anh: Spotted gliding lizard
Tên Latin: Draco maculatus
Đồng danh: Dracunculus maculatus Gray, 1845
Đồng danh: Draco divergens Taylor, 1934
Đồng danh: Draco haasei Taylor, 1934
Đồng danh: Draco whiteheadi Smith, 1923
Tên khác: Thằn lằn bay rừng mưa
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẰN LẰN BAY ĐỐM

Draco maculatus (Gray, 1845)
Dracunculus maculatus Gray, 1845
Draco divergens Taylor, 1934
Draco haasei Taylor, 1934
Draco whiteheadi Smith, 1923
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài thằn lằn bay nhỏ có chiều dài thân (SVL) 70,22mm, chiều dài đuôi 115,8mm. Họng có một túi da nhỏ, bình thường xếp xuôi xuống ngực và dài đến ngang nách. Hai bên sườn có mảng da lớn, phía trước của mảng da bắt đầu từ nách, phía sau của mảng da phủ đến 1/2 đùi. Mảng da dược nâng đỡ bởi 5 xương sườn nhỏ. Vảy bụng nhỏ, xếp chồng lên nhau và nổi gờ rất rõ. Vảy ở gốc đuôi và trên đuôi lớn hơn, có gờ rất rõ. Vảy trên lưng, đầu và cổ xếp cạnh nhau. Không đều và không có gờ. Mặt trên của mảng da từ màu cam đến màu hồng. Trên màng da và phân trên lưng có các đốm đen nhò, không đồng đều. Mặt dưới màu vàng nhạt đến xám nhạt. Thân màu nhạt mốc với các đốm xám xẫm màu.
Sinh học, sinh thái:
Khác với các loài thằn lằn bay khác, loài này sống trong rừng nửa rụng lá, thoáng, khô ráo, xanh tươi và rừng mưa nhiệt đới gió mùa, nơi có nhiều cây gỗ lớn và đã ghi nhận chúng sống ở độ cao 2.400m so với mực nước biển. Hoạt động kiếm ăn ban ngày, thức ăn chủ yếu là kiến và các loại ấu trùng, thỉnh thoảng ăn các côn trùng khác, Sinh sản vào đầu mùa mưa, đẻ từ 4 đến 5 trứng trong các lớp vỏ mục ở thân cây hay kẽ nứt. Nhờ sở hữu bộ xương sườn dài, nên chúng có thể duỗi thẳng và co rút. Giữa xương sườn là phần da được xếp nếp và gấp gọn dọc theo cơ thể. Khi muốn bay từ cây này qua cây khác, chúng có thể mở ra và hoạt động như một đôi cánh. Nhờ đó, chúng có thể đón hướng gió và bay lướt nhẹ nhàng.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Ngân Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội (Ba Vì), Quảng Ninh (Ba Mùn, Cái Bầu), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Quảng Nam – Đà Nẵng, Lâm Đồng (Di Linh), Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo)
Nước ngoài: Ở hầu khắp các nước Đông nam Á, tới Myanmar sang Hải Nam tới Penang.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Hiện nay số lượng loài đang bị giảm sút do thiếu sinh cảnh thích hợp.  Việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên đã khiến loài này đang bị đe dọa. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Mô tả loàiNguyễn Quảng Trường, Hoàng Ngọc Thảo, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae