TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thạch tùng răng

Tên tiếng Anh: Toothed clubmoss
Tên Latin: Huperzia serrata
Đồng danh: Lycopodium serratum Thunb., (1784)
Đồng danh: Huperzia longipetiolata (Spring) Y.C.Yang, (1982)
Đồng danh: Urostachys javanicus (Sw.) Herter, (1949)
Đồng danh: Huperzia javanica (Sw.) C.Y.Yang, (1989)
Tên khác: Thạch tùng rêu

THẠCH TÙNG RĂNG

Huperzia serrata (Thunb.) Trevis., 1875
Lycopodium serratum Thunb., (1784)
Huperzia longipetiolata (Spring) Y.C.Yang, (1982)
Urostachys javanicus (Sw.) Herter, (1949)
Huperzia javanica (Sw.) C.Y.Yang, (1989)
Họ: Thông đất Lycopodiaceae
Bộ: Thông đất Lycopodiales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân thảo nhiều năm, mọc ở đất, đứng cao 15 – 40 cm, đơn hay lưỡng phân 1 – 2 lần, đường kính 1,5 – 3,5 mm, ở giữa cùng với các lá rộng 1,5 – 4 cm, phần trên thường có củ.hình trụ. Lá mọc vuông góc với thân, hình bầu dục – mũi mác. dài 15mm, rộng 3mm, tương đối mỏng; gân giữa rõ; mép lá có răng, thuôn về gốc thẳng, 1 – 3 cm × 1 – 8 mm, mỏng như da, cả hai mặt đều nhẵn, gân giữa nổi rõ,mép thẳng và không giòn, có răng không đều, đỉnh nhọn; răng nhọn ở đỉnh, thô hoặc hơi nhỏ. Các lá mọc lệch gần gốc, lan dần về phía ngọn thân, xếp thành nhiều bậc xoắn ốc, không có khí khổng trên các mặt trục, các lá lớn nhất thuôn hẹp với đỉnh nhọn đột ngột. Túi bào tử ở nách nhánh lá, giống lá thường, hình thận, màu vàng tươi.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc ở dưới tán rừng ẩm. gần với dương xỉ, mọc ở vùng đất ngập nước, ở vùng núi với độ cao trung bình từ 1.000 – 2.200 m. Cây ưa bóng, ưa ấm, sinh trường rất chậm và tái sinh cũng rất chậm, từ hạt.
Phân bố:
Trong nước: Hòa Bình (Mai Châu), Kon Tum (Kon Plông), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Lào Cai (Sapa), Quảng Nam (Nam Trà My), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Yên Bái (Mù Cang Chải), Vĩnh Phúc (Tam Đảo).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bhutan, Campuchia, Hàn Quốc, Triều Tiên, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nga, Nhật Bản, Philippines, Sri Lanka, các đảo Thái Bình Dương, Thái Lan, Trung Mỹ, Trung Quốc, Úc.
Giá trị:
Toàn cây dùng tươi hay phơi khô, sắc uống trị đòn ngã tổn thương, các vết thâm tím và sưng đau, nôn ra máu, đái ra máu, trĩ chảy máu. Dùng ngoài, giã cây tươi đắp trị đinh nhọt và viêm mủ da, rắn cắn, bỏng và vết cháy.
Tình trạng:
Loài phân bố này rải rác ở các vùng núi cao từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng trồng cây công nghiệp và nương rẫy. Loài này bị khai thác quá mức để làm dược liệu (chữa bệnh alzheimer) và buôn bán. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo tồn tại chỗ ở các địa điểm phân bố của loài. Có thể xây dựng mô hình bảo tồn chuyển chỗ Thạch tùng răng ở các vườn cây thuốc để bảo tồn và phát triển nguyên liệu làm thuốc.

Mô tả loài: Trần Hợp, Phùng Mỹ Trung, Phạm Văn Thế – Web Admin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae