TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Ngô Ngọc Hải

Thạch sùng mí cát bà

Tên tiếng Anh: Cat Ba leopard gecko
Tên Latin: Goniurosaurus catbaensis
Đồng danh: Goniurosaurus catbaensis Ziegler et al., 2008
Đồng danh: Goniurosaurus catbaensis Ziegler et al., 2008
Đồng danh: Goniurosaurus catbaensis Ziegler et al., 2008
Đồng danh: Goniurosaurus catbaensis Ziegler et al., 2008
Tên khác: Thằn lằn báo cát bà
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẠCH SÙNG MÍ CÁT BÀ

Goniurosaurus catbaensis Ziegler et al., 2008
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài bò sát hang động có cơ thể dẹt, thanh mảnh, SVL (chiều dài đầu – thân) 89,3 – 125,3 mm; lỗ mũi ngoài được giới hạn bởi 6 – 8 vảy mũi; vùng trên ổ mắt có một hàng củ vảy phồng to; bề mặt ngoài của mí mắt trên bao gồm các vảy dạng hạt nhỏ, có kích thước nhỏ bằng ½ kích thước những vảy này ở đỉnh đầu và có một hàng 6 – 10 củ vảy lớn; không có vảy bên trong; vảy trên môi 8 – 11; vảy dưới môi 7 – 10; vảy viền mí mắt 45 – 56; vảy sau cằm 2 – 5; vùng cổ dưới hàm dưới không có nốt sần lớn; nốt sần cạnh đốt sống 31 – 38; các hàng vảy quanh giữa thân 112 127, vảy dạng hạt bao quanh nốt sần 8 – 11; túi nách sâu; phiến dưới ngón chân thứ tư 22 – 25; lỗ chân lông trước huyệt ở con đực 16 – 23; mống mắt màu nâu cam; màu nền lưng của đầu, thân và chân có màu nâu xám đến nâu nhạt và lốm đốm các đốm nâu sẫm; vòng gáy mỏng, kéo dài về phía sau (hình chữ V); các dải thân lưng giữa các điểm bám chân có 3 – 4, mỏng, màu vàng, không có đốm đen; các đốm; dải sáng ở gốc đuôi rộng 8 – 9 vảy; màu nền đuôi đen, dải đuôi 5, màu trắng, hoàn thiện ở phần bụng; bề mặt bụng của đầu, thân và chân có màu trắng xỉn và không tì vết, vùng cổ có các đốm nâu.
Loài này khác với các loài khác sau: Thân và chân mảnh. Vạch gáy mỏng, kéo dài về phía sau. Ba (hoặc bốn) sọc thân lưng mảnh, màu thuần khiết, nằm giữa khoảng cách các chân, không có đốm thâm. Mặt lưng và chân có đốm thâm. Đầu có hoa văn tối màu. Đồng tử màu nâu cam. Thiếu vảy sau mõm (gian mũi), các vảy trên mũi gặp giữa đường giữa sau đường viền mõm. 5 – 6 vảy quanh lỗ mũi. Có hàng nốt sần mở rộng ở vùng trên ổ mắt. Mặt ngoài của mí mắt trên có vảy nổi hột cùng kích thước với những vảy trên đỉnh đầu và có hàng dài 6 – 9 nốt sần lớn. 52 – 55 vảy riềm mí mắt. 8 – 9 vảy môi trên và 6 – 8 vảy môi dưới. Vảy thân nổi hột, có 8 – 11 vảy nổi hột bao quanh nốt sần thân. Túi nách sâu. Ngón chân mảnh, dài, có màng khớp rộng và móng được bọc bởi 4 vảy. 16 – 21 lỗ trước huyệt.
Những khác biệt chủ yếu về hình thái của các loài Thạch sùng mí Goniurosaurus sp. ở Việt Nam như sau:

  1. Mút mõm của Goniurosaurus catbaensis thiếu vảy sau mõm (gian mũi) và hai vảy trên mũi nối liền nhau.
  2. Mút mõm của Goniurosaurus lichtenfelderi có một vài vảy gian mũi.
  3. Vạch gáy của Goniurosaurus huuliensis thuôn nhọn chữ V ra phía sau. Khác với vạch gáy của Goniurosaurus luii.
  4. Vạch gáy của Goniurosaurus lichtenfelderi thuôn tròn chữ U ra phía sau. Khác với vạch gáy của Goniurosaurus luii.
  5. Vạch gáy của Goniurosaurus luii thuôn tròn chữ V ra phía sau nhưng không nhọn như Goniurosaurus catbaensis.
  6. Lỗ trước huyệt và cơ quan sinh dục đôi lồi lên của Goniurosaurus luii ở con đực và có hai nốt sần sau huyệt.
  7. Lỗ trước huyệt mờ của Goniurosaurus lichtenfelderi ở con cái và chỉ có một nốt sần sau huyệt ở mỗi bên.

Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khe đá và hang động trên các vách núi đá vôi. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực phân bố, kiếm ăn đêm, nên chúng có đôi mắt rất lớn với độ mở rất lớn để ánh sáng lọt vào nhiều nhất giúp chúng nhìn thấy kẻ thù để chạy trốn và con mồi để tấn công cho nên chúng có gờ mí mắt nổi rõ hơn hẳn. Chiếc đuôi nguyên bản chỉ hơi phồng ở gốc, nhưng khi chúng bị đứt đuôi chiếc đuôi tái sinh sẽ phồng lên lớn hơn so với bình thường và rất rõ. Đuôi tái sinh là một quá trình tái tạo đặc biệt của một số loài tắc kè thuộc Họ Tắc kè Gekkonidea, đuôi tái sinh không chỉ phát triển hệ cơ, mạch máu, hệ xương mà còn cả hệ thần kinh.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới phát hiện ở Việt Nam được công bố tháng 05 năm 2008. Hiện tại mới chỉ ghi nhận loài thằn lằn này ở Khu sinh quyển Cát Bà, Hải Phòng. Đây cũng là loài Thạch sùng mí thứ tư thuộc Giống Goniurosaurus hiện biết ở Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở quần đảo Cát Bà và một số đảo nhỏ thuộc vịnh Hạ Long; diện tích phạm vi phân bố (EOO) khoảng 1.000 km2; diện tích nơi cư trú (AOO) ước tính khoảng < 500 km2; số địa điểm ghi nhận là 2; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác đá, khai thác lâm sản, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động du lịch. Sinh cảnh sống của loài đã bị chia cắt do sống trên đảo Cát Bà và các đảo nhỏ biệt lập. Môi trường sống bị suy thoái do khai thác đá, rừng bị khai thác trong quá khứ, làm đường và quấy nhiễu từ các hoạt động du lịch. Hiện vẫn chịu tác động của khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng, tuy nhiên ở quy mô nhỏ và ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động du lịch (Ngo et al. 2016, 2019). Hoạt động săn bắt và buôn bán làm sinh vật cảnh ở trong nước và quốc tế có thể đe dọa trực tiếp đến quần thể của loài này.
Phân hạng: EN B1ab(ii, iii)+2ab(ii,iii)
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài phần lớn nằm trong VQG Cát Bà nên hạn chế được tác động. Các loài thạch sùng mí có tên trong Phụ lục II CITES và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đã có chương trình nhân nuôi bảo tồn thử nghiệm tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc. Tuy nhiên vẫn rất cần Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, kể cả vùng nằm ngoài ranh giới VQG Cát Bà (các đảo nhỏ thuộc quần đảo Cát Bà và vịnh Hạ Long) nhằm giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và quấy nhiễu từ các hoạt động du lịch. Kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Có thể nhân nuôi sinh sản để tạo nguồn con giống phục hồi quần thể khi cần.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae