TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thạch sùng garnot

Tên tiếng Anh: Garnot’s house gecko
Tên Latin: Hemidactylus garnoti
Đồng danh: Hemidactylus garnoti Duméril & G. Bibron, 1836
Đồng danh: Hemidactylus garnoti Duméril & G. Bibron, 1836
Đồng danh: Hemidactylus garnoti Duméril & G. Bibron, 1836
Đồng danh: Hemidactylus garnoti Duméril & G. Bibron, 1836
Tên khác: Thạch sùng nhà đốm
  • Độ cao so mặt nước biển 2100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẠCH SÙNG GARNOT

Hemidactylus garnoti Duméril et Bibron, 1836
Hemidactylus garnoti Duméril & G. Bibron, 1836
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài thân : 65 mm, chiều dài đuôi: 70 mm Đầu lớn, mút mõm tù, dài hơn khoảng cách giữa mắt và tai. Lỗ tai bé, gần tròn, đường kính không quá 1/2 lần đường kính mắt. Có 11 – 13 tấm mép trên, 9 – 12 tấm mép dưới ở mỗi bên. Tấm cằm gần có hình tam giác, dài hơn 2 lần các tấm mép bên cạnh; 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất tiếp xúc nhau, cặp thứ hai (bên ngoài) bé hơn, thường phân cách với các tấm mép dưới bởi những vảy nhỏ; vảy vùng họng dạng hạt phẳng. Tấm mõm rộng bằng cao; lỗ mũi ở giữa tấm mõm, tấm mép trên thứ nhất và những vảy bé phía sau. Trên đầu phủ vảy bé dạng hạt ở phía sau, các hạt ở vùng mõm lớn hơn. Trên lưng với những vảy hạt bé, đồng dạng, ngoại trừ dọc theo phía bên có một đường củ tròn rộng.
Bụng với những vảy tròn, nhẵn, xếp gối nhau. Các ngón tay tự do hoặc có một ít màng, giãn trung bình, bản mỏng xiên, ngón I kém 1/2 chiều dài ngón II. Có 5 – 6 bản mỏng dưới ngón I, 11 – 13 bản mỏng dưới ngón IV chi trước, có một nếp da dọc theo bờ của đùi. Chi sau đạt đến nách hoặc gần nách. Đuôi dẹp mạnh, sắc, có răng cưa ở hai bên; phía trên phủ những vảy nhỏ đồng dạng, mặt dưới phẳng với những vảy lớn xếp gối nhau và một hàng vảy ngang mở rộng ở giữa đuôi. Thân màu nâu xám với các đốm hoặc vết không rõ ràng, thường có những điểm nhỏ màu trắng; có vạch tối dọc theo hai bên đầu. Mặt bụng màu trắng.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, quanh các khu vực có gốc cây to hay tảng đá mẹ trong rừng thường xanh và đôi khi gặp sống ở các khu vực dân cư. Thức ăn là các loài ấu trùng sống trong khu vực sinh sống.
Phân bố:
Trong nước: Thừa Thiên – Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Đắk Lắk, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang. Cà Mau
Nước ngoài: loài này đã được ghi nhận là phân bố rộng, từ Ấn Độ, Trung Quốc sang Đông Nam châu Á và khắp nơi ở các đảo trên Thái Bình Dương.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae