TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Văn Cường

Voọc bạc trường sơn

Tên tiếng Anh: Annamese langur
Tên Latin: Trachypithecus margarita
Đồng danh: Trachypithecus germaini margarita (Elliot, 1909)
Đồng danh: Trachypithecus villosus margarita (Elliot, 1909)
Đồng danh: Trachypithecus germaini margarita (Elliot, 1909)
Đồng danh: Trachypithecus villosus margarita (Elliot, 1909)
Tên khác: Voọc bạc tây nguyên
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VOỌC BẠC TRƯỜNG SƠN

Trachypithecus margarita (Elliot, 1909)
Trachypithecus germaini margarita (Elliot, 1909)
Trachypithecus villosus margarita (Elliot, 1909)
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Loài voọc có kích thước trung bình, dài thân 40 – 75 cm, đuôi dài, màu xám, (không có chức năng cầm nắm, đuôi dùng để giữ thăng bằng khi chuyền cành) có chiều dài từ 57 – 110 cm. Cân nặng chính xác của chúng chưa được ghi nhận, nhưng những con cùng chi dao động từ 5 – 15 kg, con đực thường lớn hơn con cái. Sự khác biệt về cân nặng này giữa hai giới, cùng với một mảng trắng quanh vùng mu của con cái, để phân biết về giối tính (khác biệt rõ rệt về thể chất giữa hai giới).
Thân mảnh khảnh, phủ bởi lớp lông dày màu xám nhạt. Phần bụng và cổ họng có màu xám nhạt hơn so với phần còn lại, cũng như phần chân và mặt dưới đuôi. Trán, cẳng tay, bàn tay và bàn chân màu đen. Mặt xám, một vòng nhạt màu xung quanh mỗi mắt màu đồng. Lông trên đỉnh đầu tạo thành mào trùm đầu, một dạng “chiếc mũ” lông. Con non có màu khác biệt với con trưởng thành. Bộ lông màu vàng cam bóng, với khuôn mặt, bàn tay và bàn chân màu trắng. Sau vài tháng, màu sắc của chúng sẽ thay đổi giống như con trưởng thành, bắt đầu từ đầu, bàn tay và bàn chân.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là lá cây 80%, chồi cây 10%, quả 10%. Vào khoảng 100 loài thực vật dùng làm thức ăn cho loài. Chưa có trường hợp nào quan sát thấy ăn động vật. Là loài hoạt động vào ban ngày và ở trên cây. Trong đàn một con đực dẫn đầu. Con non có màu vàng da cam rất rõ trong vòng 6 tuần tuổi. Con đực ít chú ý tới con non hơn. Cấu trúc đàn là một đực và nhiều cái. Số lượng con trong đàn 15 – 38. Sinh cảnh chính là rừng thường xanh, rừng nguyên sinh, thứ sinh, rừng ngập mặn ven biển, bìa rừng dọc các con sông. Chúng thích sống ở các vùng núi thấp dưới 500m nhưng cũng phát hiện thấy chúng ở độ cao trên 1.000m (1.737m). Thường sống và kiếm ăn trên độ cao10 – 50m.
Mùa sinh sản từ tháng 11 đến tháng 5, thời gian mang thai khoảng 196 ngày, mỗi lần sinh một cá thể, bộ lông con sơ sinh màu vàng. Trưởng thành sau 4 năm đối với con cái và sau 4 – 5 năm đối với con đực. Tuổi thọ trung bình từ 20 – 25 năm, thời gian 1 thế hệ khoảng 10 – 12 năm
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Gia Lai (A Yun Pa), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Yok Đôn), Đăk Nông, Khánh Hòa, Lâm Đồng (Lang Biang), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Tây Ninh (Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, Núi Bà Đen), Bình Thuận (TaKou), Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu..
Nước ngoài: Lào, Campuchia..
Giá trị:
Có giá trị khoa học cao, là đối tượng nghiên cứu khoa học, nuôi làm cảnh trong vườn thú, vật thí nghiệm nghiên cứu Vaccine phục vụ đời sống con người.
Tình trạng:
Loài này phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ, là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm, dược liệu và làm cảnh. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 36 năm qua. Rất ít số liệu về tình trạng của loài trên toàn bộ phạm vi phân bố. Có ít nhất 60 cá thể ở KBTTN Takou, tỉnh Bình Thuận. Trong khi chúng đã được quan sát thấy ở một số khu vực khác trong vài năm qua bao gồm VQG Cát Tiên (Đồng Nai), VQG Yok Đôn (Đắk Lắk), VQG Chư Mom Ray (Kontum), không có số lượng cụ thể được ghi nhận.
Rất ít số liệu về tình trạng của loài trên toàn bộ phạm vi phân bố. Có ít nhất 60 cá thể ở KBTTN Takou, tỉnh Bình Thuận. Trong khi chúng đã được quan sát thấy ở một số khu vực khác trong vài năm qua bao gồm VQG Cát Tiên (Đồng Nai), VQG Yok Đôn (Đắk Lắk), VQG Chư Mom Ray (Kontum), không có số lượng cụ thể được ghi nhận
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 35.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae