Thạch sùng đuôi thùy
| Tên tiếng Anh: | Smooth-backed gliding gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Gekko lionotum |
| Đồng danh: | Ptychozoon lionatum Annadale, 1905 |
| Đồng danh: | Ptychozoon homalocepjhalum Annadale, 1905 |
| Đồng danh: | Ptychozoon lionatum Annadale, 1905 |
| Đồng danh: | Ptychozoon homalocepjhalum Annadale, 1905 |
| Tên khác: | Tắc kè lượn lưng trơn |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Ấn Độ Myanmar Đồng Nai Kiên Giang Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp các nước Đông dương (Thái Lan) Vườn quốc gia Phú Quốc, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới ven biển
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Kiếm ăn ở các savan, đồng cỏ, đất nông nghiệp trồng trọt Ăn các loài ấu trùng, côn trùng sống trong khu vực sống
THẠCH SÙNG ĐUÔI THUỲ
Gekko lionotum (Annandale, 1905)
Ptychozoon lionatum Annadale, 1905
Ptychozoon homalocepjhalum Annadale, 1905
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước trung bình, chiều dài đuôi: 10 cm, chiều dài thân 9,6 cm, chiều dài tổng cộng: 21 cm. Loài thạch sùng này rất giống thạch sùng đuôi ba thùy Ptychozoon trinotaterra nhưng nhỏ hơn và các riềm đuôi hơi hướng về phía sau, không có các nốt sần lớn trên lưng, ngón chân trước đầu tiên tách hẳn khỏi lớp da dọc theo cẳng tay. Thân mảnh hơn và ít hoa văn hơn. Đuôi của chúng hai bên có hình răng cưa và được xẻ sâu với 9 – 15 răng cưa. Ở những cá thể bị đứt đuôi tái sinh lại hầu như không thấy phần răng cưa xuất hiện. Các màng da bụng và da rộng, bành ra hai bên khi chúng nhảy từ cây này qua cây khác trong lúc lẩn tránh kẻ thù.
Loài Ptychozoon lionatum khác các loài cùng Giống Ptychozoon khác bởi các đặc điểm sau:
Ptychozoon lionotum khác Ptychozoon trinotaterra bởi kích thước thân nhỏ hơn (15 – 16 mm so với 18 – 23 mm), thuỳ đuôi răng cưa, sự hợp thuỳ giảm ở đường viền gần của phần cuối đôi thẳng mép (so với phần cuối đuôi có khía gồm 3 – 9 thuỳ răng cưa ở đường viền gần) và sự tiêu biến của vết lõm đầu ngón ở vùng mở rộng da trước ống chân.
Ptychozoon lionotum khác các loài Ptychozoon sp. bởi chiều dài lớn nhất từ mút mõm đến lỗ huyệt 95.9 mm. Vảy trên mũi không nối nhau. 7 – 9 vảy môi trên, 9 – 11 vảy môi dưới. Xuất hiện vành da dưới màng nhĩ. Tiêu biến viền trên màng nhĩ hoặc yếu. Không có nốt sần ở đuôi và lưng. Có vảy nâng đỡ màng da dù lợp lên nhau trên bề mặt lưng của màng dù. 73 – 81 vảy lưng thân giữa. 35 – 38 vảy bụng. Một lề mép giữa vành trước ống chân và ngón I. Không có vảy đùi mở rộng. Con đực có 20 – 22 vảy trước huyệt sinh lỗ. 23 hoặc 24 vảy trước huyệt mở rộng. Năm hàng vảy sau huyệt mở rộng. 16 hoặc 17 màng ngang đốt ngón ở ngón chân thứ tư. Vảy lưng mở rộng nhẹ hình thành những đường vân gián đoạn mờ đến đường như không thấy. Gần 29 – 34 vảy ngang phần rộng nhất của vành đuôi. Thuỳ ngoại biên rải rác hình thành vành đuôi hẹp ngắn. Mép vành đuôi mịn. Thuỳ đuôi nhọn về phía sau. Thuỳ đuôi giảm dần kích thước về phía sau. Sọc sau mắt biến đổi. Bốn vệt thâm giữa vùng gắn chân. Những vệt màu trắng hình dạng không quy luật ở xương sống.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng thường xanh còn tốt, đã gặp ở rừng phục hồ. Là loài hoạt động về đêm và thường sống chung với các loài thạch sùng khác. Thỉnh thoảng gặp chúng nghỉ trên thân cây vào ban ngày. Khi bị rượt đuổi, chúng thường nhảy xuống và dùng cánh da để lượn qua cây khác. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng nhỏ sống trong khu vực, đẻ 2 trứng màu trắng trong kẽ nứt của cây.
Phân bố:
Trong nước: Loài này có vùng phân bố hẹp ở Đồng Nai (Trảng Bom, Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu, Vườn quốc gia Cát Tiên), Kiên Giang (Vườn quốc gia Phú Quốc).
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Borneo, Thái Lan và Cambodia, Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Dúi mốc
Tên tiếng Anh:Hoary bamboo rat
Tên Latin:Rhizomys pruinosus
Bọ hung năm sừng bảo lộc
Tên tiếng Anh:Bao Loc rhinoceros beetle
Tên Latin:Eupatorus endoi
Đan sâm
Tên tiếng Anh:Redroot sage
Tên Latin:Salvia miltiorrhiza
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae