TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thạch sùng đuôi sần

Tên tiếng Anh: Common house gecko
Tên Latin: Hemidactylus frenatus
Đồng danh: Hemidactylus vittatus Gray, 1845
Đồng danh: Hemidactylus javanicus Fitzinger, 1826
Đồng danh: Hemidactylus punctatus Jerdon, 1853
Đồng danh: Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836
Tên khác:
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẠCH SÙNG ĐUÔI SẦN

Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836
Hemidactylus vittatus Gray, 1845
Hemidactylus javanicus Fitzinger, 1826
Hemidactylus punctatus Jerdon, 1853
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Dài thân: 45 – 63mm, dài đuôi: 45 – 68mm. Đầu và thân phủ vảy hạt nhỏ đồng dạng, vảy ở mõm lớn hơn vảy trên đầu và trên thân một chút, xếp cạnh nhau. Vảy họng hình hạt xếp cạnh nhau. Vảy ở ngực, bụng và dưới đùi có dạng tròn, lớn hơn vảy trên thân, xếp gối lên nhau. Vảy xung quanh khe huyệt bé. Tấm mõm hình chữ nhật, rộng hơn cao 1,6 lần.Tấm cằm hình tam giác, mép viền ngoài rộng hơn tấm mõm. Có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất chạm tấm mép trên thứ nhất, cặp thứ hai tiếp xúc tấm thứ nhất và tấm thứ hai. Có 10 – 12 tấm mép trên, 7 – 9 tấm mép dưới ở mỗi bên. Có 5 bản mỏng dưới ngón I chi trước, 8 – 11 bản mỏng dưới ngón IV chi sau. Có 16 – 17 lỗ đùi ở mỗi bên. Đuôi tròn có các gai nhỏ xếp thành 6 dãy mấu dọc.
Màu sắc đa dạng: Mặt trên màu xám đến đen, hoặc nâu sẫm, nâu nhạt, vàng nhạt đến trắng đục, có các vệt đen dọc theo thân đến gốc đuôi, hoặc có các vệt đen ngang thân; đôi khi là các đốm trắng xếp thành hàng dọc thân, hoặc không có hoa văn. Mặt dưới màu trắng đục.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, quanh các khu vực có gốc cây to hay tảng đá mẹ trong rừng thường xanh và đôi khi gặp sống ở các khu vực dân cư. Thức ăn là các loài ấu trùng sống trong khu vực sinh sống. Đẻ 2 trứng vào đầu mùa mưa trong các kẽ nứt bọng cây hay kẽ đá.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh từ Lạng Sơn cho đến Cà Mau.
Nước ngoài: Hầu khắp các vùng Đông nam châu Á và Trung Quốc, Ấn Độ.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae