TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Thạch sùng đuôi dẹp

Tên tiếng Anh: Flat-tailed house gecko
Tên Latin: Hemidactylus platyurus
Đồng danh: Stellio platyurus Schneider, 1797
Đồng danh: Lacerta schneideriana Shaw, 1802
Đồng danh: Gecko platycaudus Schinz, 1834
Đồng danh: Platyurus marginatus Oken, 1836
Tên khác: Thạch sùng nhà đuôi dẹt
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẠCH SÙNG ĐUÔI DẸP

Hemidactylus platyurus Schneider, 1792
Stellio platyurus Schneider, 1797
Lacerta schneideriana Shaw, 1802
Gecko platycaudus Schinz, 1834
Platyurus marginatus Oken, 1836
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài thân: 53 – 57 mm; chiều dài đuôi: 43 – 59 mm Loài thạch sùng dễ nhận dạng bởi có nếp da bên thân từ nách đến bẹn rộng thành diềm rất rõ, chỗ rộng nhất khoảng 2 mm. Phía sau đùi và ống chân cũng có diềm da hẹp. Cơ thể dẹp, mõm hơi nhọn, đầu dài hơn rộng, hơi phân biệt với cổ.
Lỗ mắt tròn, con ngươi hình elip thẳng đứng. Tấm mõm rộng hơn cao, phía sau lõm hình chữ V; 2 tấm trên mũi tiếp xúc với tấm mõm, cách nhau 1 – 2 vảy nhỏ. Lỗ mũi nằm giữa tấm mõm, tấm trên mũi, 2 tấm sau mũi và tấm mép trên thứ nhất. Tấm cằm hình tam giác, dài bằng rộng; có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất tiếp xúc nhau, cặp thứ 2 cách nhau bởi 1 – 2 vảy nhỏ. Có 10 – 11 tấm mép trên, 8 – 9 tấm mép dưới mỗi bên, được tiếp tục bởi các vảy nhỏ phía sau đến hết mép.
Đầu và thân phủ vảy hạt nhỏ đồng dạng, xếp cạnh nhau, không có củ; vảy vùng đầu bé hơn vảy vùng trên thân một chút. Có 36 – 42 vảy trung gian giữa hai ổ mắt nơi hẹp nhất. Cằm và họng phủ vảy hạt, xếp cạnh nhau, lớn hơn vảy trên đầu và thân. Có 96 – 99 hàng vảy ngang lưng ở giữa thân (kể cả vảy ở hai nếp da bên thân). Vảy bụng nhẵn, phủ lên nhau hình ngói lợp. Có 28 – 30 hàng (ở cá thể đực), 36 hàng (ở cá thể cái) vảy ngang giữa bụng.
Đuôi dẹp trên dưới rất rõ, phẳng ở phía dưới, hai bên có khía răng cưa. Tấm dưới đuôi rộng gấp hơn hai lần dài, tấm đầu tiên chia; có 39 – 40 tấm dưới đuôi ở cá thể đực và 50 tấm dưới đuôi ở cá thể cái, có 9 – 10 hàng vảy từ sau lỗ huyệt đến tấm dưới đuôi đầu tiên. Có 19 lỗ đùi – hậu môn mỗi bên ở cá thể đực. Chi dẹp, giữa các ngón có khoảng 1/4 đến 1/5 màng; mút các ngón đều có vuốt rõ. Có 4 – 6 bản mỏng dưới ngón I; 7 – 9 bản mỏng dưới ngón III và 7 – 9 bản mỏng dưới ngón IV chi trước. Có 5 bản mỏng dưới ngón I; 8 – 9 bản mỏng dưới ngón III; 7 – 9 bản mỏng dưới ngón IV chi.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm quanh các khu vực có gốc cây to hay tảng đá mẹ trong rừng thường xanh và sống ở các khu vực dân cư, thành phố. Thức ăn là các loài ấu trùng của các loài côn trùng sống trong khu vực sinh sống.
Phân bố:
Trong nước: Thừa Thiên-Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Đắk Lắk, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang.
Nước ngoài: loài này đã được ghi nhận là có vùng phân bố rộng, từ Ấn Độ, Trung Quốc sang Đông Nam châu Á và các đảo trên Thái Bình Dương.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae