TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Văn Anh

Thạch sùng dẹt zeigler

Tên tiếng Anh: Ziegler’s slender gecko
Tên Latin: Hemiphyllodactylus ziegleri
Đồng danh: Hemiphyllodactylus ziegleri Anh Van Pham et al., 2026
Đồng danh: Hemiphyllodactylus ziegleri Anh Van Pham et al., 2026
Đồng danh: Hemiphyllodactylus ziegleri Anh Van Pham et al., 2026
Đồng danh: Hemiphyllodactylus ziegleri Anh Van Pham et al., 2026
Tên khác: Thạch sùng chân lá sơn la
  • Độ cao so mặt nước biển 1020 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

THẠCH SÙNG DẸP ZIEGLER

Hemiphyllodactylus ziegleri Anh Van Pham et al., 2026
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Thân dẹt mặt lưng bên, kích thước nhỏ, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 41.9 mm, đuôi tái sinh (dài 16.2 mm+), dài thân 20.08 mm. Dài đầu 9.62 mm, rộng đầu 7.24 mm. Đường kính mắt 2.68 mm. Viền tai ngoài xiên, đường kính 0.91 mm. Dài mũi – mắt 3.24 mm. Dài mắt – mõm 4.51 mm, khoảng cách gian mũi 1.59 mm. Vảy mõm rât lớn, rộng hơn cao (rộng vảy 1.62 mm, cao vảy 0.95 mm), có một rãnh nông. Vảy môi trên 10/10, nở rộng từ vảy mõm đên dưới mắt, nhỏ hơn ở khóe dưới mắt. Lỗ mũi nối với vảy mõm, vảy môi trên đầu tiên,vảy trên mũi và 3 vảy mũi phía sau ở mỗi bên. Các vảy trên mũi tách biệt nhau bởi hai vảy gian mũi có hạt. Mõm phẳng, được phủ bởi vảy có hạt. Vảy môi dưới 9/9. Vảy cằm hình tam giác, rộng hơn dài, được bao quanh mặt bên bởi vảy môi dưới và phía sau bởi 2 vảy sau cằm lớn, được bao quanh mặt bên bởi vảy môi dưới đầu tiên và phía sau bởi 2 vảy sau cằm lớn. 2 vảy sau cằm lớn nối với vảy cằm và vảy môi dưới đầu tiên phía sau. Có một rãnh nông. Vảy môi trên 10/10, nở rộng từ vảy mõm đến dưới mắt, nhỏ hơn ở khóe dưới mắt. Lỗ mũi nối với vảy mõm, vảy môi trên đầu tiên, vảy trên mũi và 3 vảy mũi phía sau ở mỗi bên. Các vảy trên mũi tách biệt với 7 vảy cằm. Các vảy họng nhỏ, gần gối lên nhau. Các vảy họng và ngực gần gối lên nhau. Vảy lưng nhỏ, nổi hột, 25 – 27 hàng giữa thân. Nếp bụng bên không có. Các vảy bụng phẳng, lớn hơn vảy lưng. Các vảy trước huyệt và đùi nở rộng. 21 lỗ đùi và trước huyệt, xếp thành một hang nối tiếp. Cựa huyệt 1. Mặt lưng của chân trước và chân sau được phủ bởi vảy nổi hột. Không có móng ở ngón thứ nhất chân trước và ngón thứ nhất chân sau. Móng có từ ngón thứ hai đến thứ năm của cả chân trước và sau. Màng da dưới ngón II – V hình tam giác lớn, công thức màng 3 – 4 – 4 – 3 (chân trước) and 4 – 5 – 4 – 4 (chân sau). 5 màng da dưới ngón thứ nhất chân trước và ngón thứ nhất chân sau.Vảy mặt lưng của đuôi nổi hột. Vảy dưới đuôi phẳng, hơi lớn hơn vảy mặt lưng của đuôi.
Màu sắc trong trạng thái ngâm cồn: Mặt lưng của đầu và thân màu xám vàng. Một sọc nâu sáng chạy từ góc sau mắt đến cổ. Cổ và lưng có một hang đốm sang mỗi bên. Mặt lưng của chân màu xám có vằn sẫm màu. Môi trên có vằn thâm. Môi dưới màu trắng. Họng màu trắng. Bụng và vùng trước huyệt màu kem có đốm nâu sẫm nhỏ.
Hemiphyllodactylus ziegleri khác các loài cùng giống khác bởi những đặc điểm sau:
Loài này thường có kích thước cơ thể nhỏ, đầu dài hơn rộng, và các đặc điểm rõ rệt như cằm và các vảy môi phụ đầu tiên phình to, gai hậu môn ở cả hai giới, và màu sắc sẫm ở lưng và đầu.
Khác với loài Hemiphyllodactylus ngocsonensis bởi có tỉ lệ rộng đầu/dài đầu nhỏ hơn (0.73 – 0.79 so với 0.80 – 0.87 ở Hemiphyllodactylus ngocsonensis), nhiều lỗ đùi và trước huyệt ở con đực hơn (21 – 23 so với 20 ở Hemiphyllodactylus ngocsonensis), nhiều hàng vảy lưng hơn (22 – 27 so với 19 – 21 ở Hemiphyllodactylus ngocsonensis).
Khác với loài Hemiphyllodactylus banaensis bởi có it vảy giữa các vảy trên mũi hơn (2 – 3 so với 4 – 11 ở Hemiphyllodactylus banaensis) , nhiều hàng vảy lưng hơn (21 – 27 so với 17 – 20 ở Hemiphyllodactylus banaensis).
Khác với loài Hemiphyllodactylus lungcuensis bởi có ít vảy cằm hơn (4 – 7 so với 8 – 10 ở H. lungcuensis), nhiều hàng vảy lưng hơn (21 – 27 so với 12 – 17 ở Hemiphyllodactylus lungcuensis), nhiều hàngs vảy bụng hơn (12 – 16 so với 6 – 11 ở Hemiphyllodactylus lungcuensis.
Khác với loài Hemiphyllodactylus nahangensis bởi có vảy cằm hơn (4 – 7 so với 8 – 9 ở Hemiphyllodactylus nahangensis), nhiều màng da dưới ngón đầu tiên chân trước hơn (3 – 5 so với 3 ở H. nahangensis), nhiều màng da dưới ngón đầu tiên chân sau hơn (4 – 5 so với 3 ở Hemiphyllodactylus nahangensis).
Khác với loài Hemiphyllodactylus vanhoensis bởi có tỉ lệ dài đầu / rộng đầu lơn hơn (0.73 – 0.79 so với 0.68 – 0.72 ở Hemiphyllodactylus vanhoensis), nhiều hàng vảy lưng hơn (22 – 27 so với 15 – 19 ở H Hemiphyllodactylus vanhoensis), ít vảy quanh mũi hơn (3 so với 5 – 6 ở Hemiphyllodactylus vanhoensis), nhiều lỗ đùi và trước huyệt ở con đực hơn (21 – 23 so với 0 ở Hemiphyllodactylus vanhoensis).
Khác với loài Hemiphyllodactylus yenchauensis bởi có nhiều lỗ đùi và trước huyệt ở con đực hơn (21 – 23 so với 0 ở Hemiphyllodactylus yenchauensis), nhiều hàng vảy lưng hơn (22 – 27 so với 21 ở Hemiphyllodactylus yenchauensis).
Khác với loài Hemiphyllodactylus zugi bởi có ít vảy cằm hơn (4 – 7 so với 9 – 12 ở Hemiphyllodactylus zugi)
Sinh học, sinh thái:
Loài được tìm thấy trong các khu rừng đá vôi thường xanh bị tác động ở độ cao trên 1.020 m so với mực nước biển, với độ ẩm 80 – 90% và nhiệt độ không khí từ 22 đến 29°C. Ăn các loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Đẻ trứng trong các hốc cây nhỏ, vỏ cây khô bong tróc trong rừng vào đầu mùa mưa hàng năm.
Phân bố:
Trong nước: Khu bảo tồn thiên nhiên Copia, tỉnh Sơn La, phía Bắc Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài đặc hữu Việt Nam, được đặt tên để vinh danh Giáo sư, Tiến sĩ Thomas Ziegler vì những đóng góp của ông trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam. Là loài có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở Khu bảo tồn thiên nhiên Copia, tỉnh Sơn La nằm trong Khu bảo tồn hay Vườn quốc gia. Tuy nhiên, sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng.
Biện pháp bảo vệ:
Mặc dù sinh cảnh của loài nằm trong Khu bảo tồn hay Vườn quốc gia. Nhưng vẫn cần phải kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của thị trường nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae