TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Đặng Huy Phương

Tê tê vàng

Tên tiếng Anh: Chinese pangolin
Tên Latin: Manis pentadactyla
Đồng danh: Manis brachyura Erxleben, 1777
Đồng danh: Manis auritus Hodgson, 1836
Đồng danh: Manis pusilla Allen, 1906
Đồng danh: Manis brachyura Erxleben, 1777
Tên khác: Tê tê trung quốc
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TÊ TÊ VÀNG

Manis pentadactyla Linnaeus, 1758
Manis brachyura Erxleben, 1777
Manis auritus Hodgson, 1836
Manis pusilla Allen, 1906
Họ: Tê tê Manidae
Bộ: Thú có vảy Pholidota

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ nhỏ hơn Tê tê java Manis javanica. Thân dài 0,2 tới 0,5 m. Trọng lượng: 5 – 7 kg. Không có răng, lưỡi dài nhiều chất dính. Toàn thân (trừ bụng) phủ lớp vẩy sừng, vẩy sừng xếp chồng lên nhau giống như lợp ngói. Có 15 hàng vẩy thân xếp theo chiều dọc, 11 – 13 hàng xếp theo chiều ngang; đuôi có 14 – 17 hàng vẩy xếp theo chiều dọc, 8 hàng xếp theo chiều ngang (3 hàng ở mặt trên, 3 hàng ở mặt dưới, 2 hàng ở mép đuôi). Vẩy có mầu vàng sẫm, vàng, hoặc vàng nhạt. Có những con bạch tạng do nuôi con trong hang lâu ngày. Bụng không có vẩy, da bụng dầy có lông thưa cứng. Bàn chân trước 5 ngón, 3 ngón giữa có móng (vuốt) dài và cong. Móng chân trước dài gấp 1,5 lần móng chân sau.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn là mối, kiến, ong đất, ấu trùng (nhộng) côn trùng lẫn cả cỏ, lá cây mục. Mùa sinh sản từ tháng 1 – 3. Thời gian có chửa 5 tháng. Mỗi lứa đẻ 1 – 2 con. Sống trong rừng ẩm nhiệt đới, rừng già, rừng thứ sinh, rừng hỗn giao tre nứa gỗ, ưa thích là rừng trên đồi núi thấp có nhiều cỏ cây mục nát. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, ban ngày ẩn nấp trong hang. Hang sâu 2 – 4m, rộng 20 – 30cm, đoạn cửa hang hướng theo chiều sườn dốc, đoạn sau bằng xiên vào lòng đất. Khi gặp nguy hiểm, cuộn tròn như quả bóng.
Phân bố:
Trong nước: Thanh Hoá (Quan Sơn, Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Khe Nét), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá), Quảng Nam (Sông Thanh).
Thế giới: Ấn Độ, Bangladeshh, Bhutan, Lào, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Là loài thú hiếm, có giá trị nghiên cứu khoa học và nuôi làm cảnh trong các vườn thú, công viên để giúp học sinh, sinh viên nghiên cứu, tìm hiểu tập tính sinh thái loài thú đặc biệt này.
Tình trạng:
Trước đây, loài này có vùng phân bố rộng ở các tỉnh miền núi phía Bắc đến tỉnh Quảng Nam. Hiện nay rất hiếm gặp, kích thước quần thể ước tính đã suy giảm hơn 80% trong vòng 20 năm qua do bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, dược liệu, mỹ nghệ và buôn bán; diện tích vùng phân bố bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng; sinh cảnh sống bị suy thoái khai thác lâm sản quá mức. Kích cỡ quần thể rất nhỏ, ước tính < 250 cá thể và dự báo sẽ tiếp tục bị suy giảm khoảng 25% trong khoảng 10 năm tới do tỷ lệ bắt cặp sinh sản thấp, các hoạt động săn bắt và mất sinh cảnh tự nhiên vẫn tiếp diễn.
Phân hạngCR A2cd + C1.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và nhóm IB Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên, quản lý chặt chẽ các hoạt động săn bắt, buôn bán trái phép, có biện pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 53.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae