TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tê tê java

Tên tiếng Anh: Malayan pangolins
Tên Latin: Manis javanica
Đồng danh: Manis peptura Blyth, 1842
Đồng danh: Manis aspera Sundevall, 1843
Đồng danh: Manis guy Focillon, 1850
Đồng danh: Manis sumatrensis Ludeking, 1862
Tên khác: Trút java
  • Độ cao so mặt nước biển 1700 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TÊ TÊ JAVA

Manis javanica Desmarest, 1822
Manis peptura Blyth, 1842
Manis aspera Sundevall, 1843
Manis guy Focillon, 1850
Manis sumatrensis Ludeking, 1862
Họ: Tê tê Manidae
Bộ: Thú có vảy Pholidota

Đặc điểm nhận dạng:
Thân cỡ trung bình. Dài 0,4 – 0,65 m, trọng lượng 6 – 8 kg. Không có răng, lưỡi dài nhiều chất dính. Toàn thân, từ đầu đến cuối đuôi phủ lớp vẩy sừng. Các vẩy sừng xếp chồng lên nhau như mái ngói. Bụng không có vẩy sừng, da dầy có lớp lông cứng. Mầu sắc của vẩy thường là mầu nâu sẫm, vàng hoặc vàng nhạt, có những con bạch tạng do nuôi con trong hang lâu ngày. Có 17 hàng vẩy thân xếp theo chiều dọc, 11 – 13 hàng xếp theo chiều ngang; đuôi có 25 hàng vẩy xếp theo chiều dọc, 8 hàng xếp theo chiều ngang (3 hàng mặt trên, 3 hàng mặt dưới và 2 hàng mép đuôi. Các móng (vuốt) chân trước dài hơn móng chân sau, móng giữa phát triển mạnh.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là mối, kiến, côn trùng nhỏ ở mặt đất, đôi khi có cả cỏ, lá cây mục. Động dục, ghép đôi vào tháng 10, đẻ con vào tháng 3 ở trong hang. Mỗi lứa 1 – 2 con (rất ít trường hợp đẻ 3 con). Con non thường có lớp vẩy mầu trắng đục. Chúng sống trong rừng già, rừng thứ sinh, rừng hỗn giao tre nứa gỗ, ở hang dưới các gốc cây to, cây mục nát, hoặc vách đất đá trong lùm cây rậm rạp. Hoạt động kiếm ăn ban đêm trên mặt đất, ban ngày trú ẩn trong hang.
Phân bố:
Trong nước: Nghệ An (Pù Mát), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đắkrông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, KBT Sao La, Bạch Mã), Quảng Nam (Sông Thanh), Kontum (Kon Plông, Chư Mom Ray), Gia Lai (Kon Ka Kinh), Đắk Lắk (Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà, Cát Lộc), Bình Thuận (Ka Long-Sông Mao), Đồng Nai (Cát Tiên, Vĩnh Cửu), Bình Phước (Bù Gia Mập), Kiên Giang (U Minh Thượng), Cà Mau (U Minh Hạ).
Nước ngoài: Myanmar, Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài quý hiếm. Có khả năng tiêu diệt mối, kiến và nhiều loài côn trùng hại gỗ và cây rừng. Là loài thú nuôi cảnh đẹp trong công viên và vườn thú nhằm giúp học sinh, sinh viên học tập, nghiên cứu tập tính của loài.
Tình trạng:
Loài này có vùng phân bố khá rộng từ Nghệ An đến Cà Mau, nhưng hiện rất hiếm gặp ngoài tự nhiên; kích thước quần thể ước tính đã suy giảm hơn 80% trong vòng 20 năm qua do bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu, mỹ nghệ và buôn bán; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, khai thác lâm sản. Kích cỡ quần thể nhỏ và suy giảm nghiệm trọng, ước tính số lượng cá thể còn khoảng < 250 và dự báo sẽ tiếp tục bị suy giảm khoảng 25% trong khoảng 10 năm tới do tỷ lệ sinh sản thấp, các hoạt động săn bắt và mất sinh cảnh tự nhiên vẫn tiếp diễn.
Phân hạngCR A2cd+C1.
Biện pháp bảo vệ:
Mặc dù có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và nhóm IB Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng loài này là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, dược liệu và mỹ nghệ. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên, quản lý chặt chẽ các hoạt động săn bắt, buôn bán trái phép, có biện pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn tê tê.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 45.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae