TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:WWF

Tê giác một sừng

Tên tiếng Anh: Javan rhinoceros
Tên Latin: Rhinoceros sondaicus
Đồng danh: Rhinoceros inernus Lesson, 1840
Đồng danh: Rhinoceros floweri Gray, 1867
Đồng danh: Rhinoceros inernus Lesson, 1840
Đồng danh: Rhinoceros floweri Gray, 1867
Tên khác: Te giác java
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TÊ GIÁC MỘT SỪNG

Rhinoceros sondaicus Desmarest1822
Rhinoceros inernus Lesson, 1840
Rhinoceros floweri Gray, 1867
Họ: Tê giác Rhinocerotidae
Bộ: Ngón lẻ Perissodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Thân cỡ lớn nhất trọng họ Tê giác Rhinocerotidae ở Việt Nam, có thể dài tới 3m. Trọng lượng: trên 2000 kg. Thị giác kém phát triển. Trên mũi chỉ có 1 sừng (thường chỉ có ở con đực) mọc ngay trên mũi, sừng do lớp biểu bì tạo thành nên không gắn liền với xương sọ mà gắn với lớp biểu bì của da. Da dầy cứng, lông rất thưa, với 3 nếp gấp sâu và nhiều nếp gấp nhỏ chia bề mặt da thành nhiều mảnh (giống áo giáp). Lưng và hai bên hông mầu xám sẫm, bụng mầu hơi đỏ. Chân to, bàn chân 3 ngón với móng guốc hình bán nguyệt, móng giữa to hai móng bên nhỏ.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn của tê giác là củ, quả, rễ cây, cành lá cây nhỏ, kể cả cành cây nhỏ có gai. Tuổi sinh sản 4 – 5 năm. Thời gian có chửa 16 – 18 tháng; 3 – 4 năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Tê giác sống đơn độc trong rừng già ở những nơi sâu kín ít ngươi qua lại. Nơi ở thường gần các sình lầy ẩm ướt, thích ngâm mìmh trong bùn nước.
Phân bố:
Trong nước: Trước năm 2000, loài này ghi nhận ở  vùng Cát Lộc, Lâm Đồng thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Nay bị tuyệt chủng.
Nước ngoài: Đông Pakistan, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia (Sumatra).
Giá trị:
Thú quý hiếm. Có giá trị bảo tồn nguồn gen trong thiên nhiên và nghiên cứu khoa học cũng như nuôi làm cảnh ở công viên, vườn thú.
Tình trạng:
Loài này hiện không còn ghi nhận ở Việt Nam, cá thể Tê giác một sừng cuối cùng ở Cát Lộc (Lâm Đồng) thuộc địa bàn VQG Cát Tiên đã bị chết vào tháng 4 năm 2010.
Phân hạng : EX
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP. Danh lục đỏ IUCN (1996) Nghị Định 18/HĐBT, Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ cấm săn bắn bẫy bắt và buôn bán Tê giác. Mặt khác cần bảo vệ nghiêm ngặt vùng rừng Cát Lộc, di chuyển các hộ dân đang sống giữa vùng rừng bảo vệ đến nơi định cư mới, xây dựng vùng đệm nâng cao đời sống nhân dân để giảm sức ép lên rừng, đồng thời cũng có thể di chuyển một số cá thể về vườn thú hoặc Vườn quốc gia khác để bảo tồn nguồn gen hữu hiệu hơn.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 51.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae