Tê giác một sừng
| Tên tiếng Anh: | Javan rhinoceros |
|---|---|
| Tên Latin: | Rhinoceros sondaicus |
| Đồng danh: | Rhinoceros inernus Lesson, 1840 |
| Đồng danh: | Rhinoceros floweri Gray, 1867 |
| Đồng danh: | Rhinoceros inernus Lesson, 1840 |
| Đồng danh: | Rhinoceros floweri Gray, 1867 |
| Tên khác: | Te giác java |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Ấn Độ Myanmar Đồng Nai Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Nepal
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng tre nứa Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Trước đây có phân bố tự nhiên, nay bị tuyệt chủng
- Tình trạng bảo tồn Tuyệt chủng EX: Extinct Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú móng guốc ăn các loài cây cỏ Thú ăn quả cây trong rừng Thú kiếm ăn ban ngày
TÊ GIÁC MỘT SỪNG
Rhinoceros sondaicus Desmarest, 1822
Rhinoceros inernus Lesson, 1840
Rhinoceros floweri Gray, 1867
Họ: Tê giác Rhinocerotidae
Bộ: Ngón lẻ Perissodactyla
Đặc điểm nhận dạng:
Thân cỡ lớn nhất trọng họ Tê giác Rhinocerotidae ở Việt Nam, có thể dài tới 3m. Trọng lượng: trên 2000 kg. Thị giác kém phát triển. Trên mũi chỉ có 1 sừng (thường chỉ có ở con đực) mọc ngay trên mũi, sừng do lớp biểu bì tạo thành nên không gắn liền với xương sọ mà gắn với lớp biểu bì của da. Da dầy cứng, lông rất thưa, với 3 nếp gấp sâu và nhiều nếp gấp nhỏ chia bề mặt da thành nhiều mảnh (giống áo giáp). Lưng và hai bên hông mầu xám sẫm, bụng mầu hơi đỏ. Chân to, bàn chân 3 ngón với móng guốc hình bán nguyệt, móng giữa to hai móng bên nhỏ.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn của tê giác là củ, quả, rễ cây, cành lá cây nhỏ, kể cả cành cây nhỏ có gai. Tuổi sinh sản 4 – 5 năm. Thời gian có chửa 16 – 18 tháng; 3 – 4 năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Tê giác sống đơn độc trong rừng già ở những nơi sâu kín ít ngươi qua lại. Nơi ở thường gần các sình lầy ẩm ướt, thích ngâm mìmh trong bùn nước.
Phân bố:
Trong nước: Trước năm 2000, loài này ghi nhận ở vùng Cát Lộc, Lâm Đồng thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Nay bị tuyệt chủng.
Nước ngoài: Đông Pakistan, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia (Sumatra).
Giá trị:
Thú quý hiếm. Có giá trị bảo tồn nguồn gen trong thiên nhiên và nghiên cứu khoa học cũng như nuôi làm cảnh ở công viên, vườn thú.
Tình trạng:
Loài này hiện không còn ghi nhận ở Việt Nam, cá thể Tê giác một sừng cuối cùng ở Cát Lộc (Lâm Đồng) thuộc địa bàn VQG Cát Tiên đã bị chết vào tháng 4 năm 2010.
Phân hạng : EX
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP. Danh lục đỏ IUCN (1996) Nghị Định 18/HĐBT, Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ cấm săn bắn bẫy bắt và buôn bán Tê giác. Mặt khác cần bảo vệ nghiêm ngặt vùng rừng Cát Lộc, di chuyển các hộ dân đang sống giữa vùng rừng bảo vệ đến nơi định cư mới, xây dựng vùng đệm nâng cao đời sống nhân dân để giảm sức ép lên rừng, đồng thời cũng có thể di chuyển một số cá thể về vườn thú hoặc Vườn quốc gia khác để bảo tồn nguồn gen hữu hiệu hơn.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 51.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Dây thiên lý
Tên tiếng Anh:Fragrant telosma
Tên Latin:Telosma cordata
Chuột chù hải nam
Tên tiếng Anh:Hainan Island shrew
Tên Latin:Crocidura wuchihensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae