TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Trịnh Ngọc Bon

Tam thất hoang

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Panax stipuleanatus
Đồng danh: Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975
Đồng danh: Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975
Đồng danh: Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975
Đồng danh: Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975
Tên khác: Bình biên tam thất
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TAM THẤT HOANG

Panax stipuleanatus H.T.Tsai & K.M.Feng, 1975
Họ Ngũ gia bì Araliaceae
Bộ: Hoa tán Apiales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây thân thảo sống nhiều năm, cao 25 – 75cm. Thân rễ mập, nằm ngang, có nhiều chỗ lõm do vết thân để lại; ít khi phân nhánh; đường kính 1,5 – 3cm. Mỗi khóm thường có 1 thân mang lá, ít khi 2 hoặc 3 – trừ trường hợp đầu thân rễ bị tổn thương, sau phân nhánh và mọc lên số chồi thân tương ứng. Thân mọc thẳng, nhẵn; đường kính 0,3 – 0,6cm. Lá kép chân vịt, gồm 1 – 3 cái, mọc vòng ở ngọn; có cuống dài 5 – 10cm. Lá chét 5; có cuống ngắn, hình thuôn hay mác thuôn, nhọn 2 đầu, 5 – 13 x 2 – 4cm; mép có răng cưa, hoặc ở một số ít cây non có thể gặp dạng xẻ lông chim nông, mép của thuỳ nông cũng khía răng cưa; thường có lông ở gân mặt trên lá. Cụm hoa tán đơn, mọc ở ngọn, hiếm khi có thêm 1 tán phụ, nhỏ; Cuống cụm hoa cao bằng với tán lá hoặc hơn, dài 5 – 10cm. Số hoa trên 1 tán gồm 30 – 80; cuống hoa mảnh, dài 1 – 1,5cm; lá bắc thường hình chỉ. Hoa màu vàng xanh, 5 lá đài nhỏ; 5 cánh hoa; 5 nhị; bầu 2 ô, có đầu nhuỵ thường chẻ đôi. Quả mọng, gần hình cầu dẹt, đường kính 0,6 – 1,2cm, khi chín màu đỏ. Hạt 1 hoặc 2, gần giống hạt đậu tròn, màu xám trắng, vỏ cứng, có rốn hạt.
Sinh học, sinh thái:
Mùa hoa tháng 4 – 5, quả tháng 5 – 9 (10). Nhân giống tự nhiên chủ yếu bằng hạt. Quả chín thường bị chim ăn, hạt rơi xuống đất lại bị loại sóc nhỏ ăn nhân hạt. Phần thân mang lá lụi hàng năm vào mùa đông, chồi mới mọc lên từ đầu thân rễ, vào đầu mùa xuân năm sau. Khi thân rễ bị gãy, phần đầu mầm còn lại có khả năng tiếp tục tái sinh. Cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng, mọc rải rác trên đất có nhiều mùn, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm, hoặc rừng có xen lẫn với sặt gai, ở độ cao từ 1.600 – 2.300 m.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sapa và Bát Xát: núi Hoàng Liên Sơn).
Thế giới: Trung Quốc (Vân Nam).
Giá trị:
Là nguồn gen đặc biệt quý hiếm đối với Việt Nam và thế giới. Tất cả các bộ phận của cây đều có thể dùng làm thuốc. Thân rễ thường được dùng làm thuốc bổ, cầm máu, tăng cường sinh dục; chống stret. Lá, nụ hoa dùng làm trà uống có tác dụng kích thích tiêu hoá, an thần.
Tình trạng:
Nạn phá rừng làm nương rẫy (núi Hàm Rồng) hoặc để trồng thảo quả, trực tiếp làm thu hẹp phạm vi phân bố. Thường xuyên bị tìm kiếm khai thác (từ 1962 đến nay). Hiện đã trở nên cực hiếm; Đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao.
Phân hạng: CR A1c,d, B1+2b,c,e.
Biện pháp bảo vệ:
Loài đã đưa vào Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Viện Dược liệu đang nghiên cứu bảo tồn và nhân trồng.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần thực vật – trang 86.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae