TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tắc kè núi bà đen

Tên tiếng Anh: Golden gecko
Tên Latin: Gekko badenii
Đồng danh: Gekko ulikovskii Darevsky & Orlov, 1994
Đồng danh: Gekko ulikovskii Darevsky & Orlov, 1994
Đồng danh: Gekko ulikovskii Darevsky & Orlov, 1994
Đồng danh: Gekko ulikovskii Darevsky & Orlov, 1994
Tên khác: Tắc kè núi vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TẮC KÈ NÚI BÀ ĐEN

Gekko badenii Shcherbak & Nekrasova, 1994
Gekko ulikovskii Darevsky & Orlov, 1994
Tắc kè Gekkonidae
Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Thằn lằn núi có kích thước khá lớn. Chiều dài thân thừ 25 – 28 cm có một số cá thể lớn dài đến 37 cm. Những vạch trắng hay vàng nhạt từ đầu đến tận chót đuôi, càng đậm màu về phía chót đuôi. Bụng mày trắng nhạt với các lớp vảy dạng hạt tròn không đều trên khắp phần bụng. Các vảy ở đùi lớn và không có lỗ chân lông ở đùi; 8 – 10 vảy môi dưới, 10 – 13 vảy môi trên, 2 vảy liên mũi; 25 – 28 hàng vảy ngang qua phần bụng ở đoạn giữa của thân; 18 – 22 phiến mỏng dưới ngón ở ngón thứ tư của chi sau.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các hang đá, nơi các tảng đá mẹ xếp chồng lên nhau. Hoạt động cả ban ngày lẫn ban đêm. Thức ăn là các loại côn trùng và các loài quả sung Ficus sp. chín rụng. Thời gian đẻ trứng vào đầu mùa mưa hàng năm và thường đẻ 2 trứng trên các vách đá hay các kẽ đá nứt. Thỉnh thoảng gặp chúng đẻ trứng trong các bọng cây hay kẽ vỏ cây lớn gần nơi sinh sống.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu Việt nam và được phát hiện năm 1994 ở núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra còn phát hiện ở Kon Tum (Sa Thầy), Kiên Giang (Hòn Đất).
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở 3 địa điểm núi Bà Đen (tỉnh Tây Ninh), huyện Sa Thầy (tỉnh Kontum) và huyện Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang); diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính khoảng 4.000 km2, số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác đá và lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch; loài này cũng bị săn bắt làm thực phẩm và nuôi làm cảnh, đặc biệt là khu vực núi Bà Đen.
Phân hạng: EN B1ab(iii,v).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này săn bắt làm thực phẩm ở khu vực núi Bà Đen (Tây Ninh) và nuôi làm cảnh trên thị trường quốc tế. Sinh cảnh sống của loài đã và đang chịu tác động của các hoạt động du lịch và xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, cáp treo, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, ô nhiễm tiếng ồn và rác thải) và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, đặc biệt là khu vực núi Bà Đen thuộc tỉnh Tây Ninh và giảm thiểu tác động của các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng và du lịch ở khu vực núi Bà Đen. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tiến hành các biện pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Có thể nhân nuôi sinh sản phục vụ mục đích thương mại và giảm thiểu săn bắt ngoài tự nhiên.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae