TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tắc kè đá

Tên tiếng Anh: Ferns of southeast asia
Tên Latin: Drynaria bonii 
Đồng danh: Aglaomorpha bonii (Christ) Hovenkamp & S.Linds., (20170
Đồng danh: Drynaria meeboldii Rosenst., (1913)
Đồng danh: Aglaomorpha bonii (Christ) Hovenkamp & S.Linds., (20170
Đồng danh: Drynaria meeboldii Rosenst., (1913)
Tên khác: Bổ cốt toái

TẮC KÈ ĐÁ

Drynaria bonii Christ, 1910
Aglaomorpha bonii (Christ) Hovenkamp & S.Linds., (2017)
Drynaria meeboldii Rosenst., (1913)
Họ: Dương xỉ đa túc Polypodiaceae
Bộ: Dương xỉ Polypodiales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây thân rễ có dạng mầm, mọc bò, có lông, mọng nước, các lông có dạng vảy cứng màu vàng nâu, các vảy có dạng hình ngọn giáo rất hẹp và được phủ vảy cứng, màu vàng bóng. Lá này thường dài 25 – 45cm, phiến lá màu xanh, lá xẻ thùy lông chim, mỗi lá gồm có 3 – 7 cặp lông chim, cuống dài 10 – 20 cm. Lá hứng mùn có hình trái xoan, thường khô, có màu nâu và ôm lấy thân. Lá sinh sản có cuống, các cuống có chiều dài khoảng từ 10 đến 20 cm, phiến lá dài từ 20 đến 45 cm, chiều rộng từ 15 đến 20 cm, màu sẫm, phiến lá chẻ lông chim thành nhiều thùy (từ 7 – 9 thùy), các thùy có dạng hình trái xoan – ngọn giáo, mép lá uốn lượn. Túi bào tử rất nhỏ, nằm ở dưới lá, rải rác không đều, các bào tử có dạng hình trái xoan, màu vàng nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Mùa sinh sản có bào tử tháng 5 – 8. Nhân giống tự nhiên bằng phát tán bào tử. Lá non hoặc chồi mọc ra hàng năm vào giữa mùa xuân. Khi thân rễ bị đứt đoạn, phần còn lại vẫn bám ở giá thể, có khả năng tái sinh. Cây ưa ẩm, hơi chịu bóng, sống bám trên đá hay thân cây gỗ lớn trong rừng ẩm thường xanh – nhất là loại hình rừng núi đá vôi.
Phân bố:
Trong nước: Bắc Kạn (Ba Bể, Chợ Đồn), Bình Phước (Bù Gia Mập), Cao Bằng (Quảng Hòa), Đà Nẵng (Bà Nà – Núi Chúa), Đắk Lắk (Chư Yang Sin), Hà Giang (Bắc Quang; Vị Xuyên), Hải Phòng (Cát Bà), Hoà Bình (Mai Châu, Tân Lạc), Kontum (Tu Mơ Rông), Lạng Sơn (Đình Lập), Ninh Bình, (Cúc Phương), Quảng Ninh (Hoành Bồ), Sơn La (Thuận Châu), Tuyên Quang (Na Hang), Thái Nguyên (Tam Đảo), Vĩnh Phúc.
Nước ngoài: Lào, Trung Quốc.
Giá trị:
Thân rễ là vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền, làm thuốc chữa đau lưng, đau nhức xương khớp, bệnh về thận. Dùng tươi để bó gãy xương.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng, rải rác ở các tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và chia cắt do tác động của hoạt động canh tác nông nghiệp, phát triển du lịch. Loài này bị khai thác quá mức làm dược liệu. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Phục hồi quần thể trong tự nhiên, có thể tiến hành nhân trồng cây thuốc này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 536.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae