TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tắc kè đá sồi

Tên tiếng Anh: Oakleaf fern
Tên Latin: Drynaria quercifolia
Đồng danh: Polypodium quercifolium L., 1753
Đồng danh: Polypodium brancifolium C.Presl, 1825
Đồng danh: Drynaria brancifolia (C.Presl) Moore, 1862
Đồng danh: Aglaomorpha quercifolia (L.) Hovenkamp & S.Linds., 2017
Tên khác: Ráng đuôi phụng lá sồi, Cây chồn đèn

TẮC KÈ ĐÁ SỒI

Drynaria quercifolia (L.) J.Sm., 184
Polypodium quercifolium L., 1753
Polypodium brancifolium C.Presl, 1825
Drynaria brancifolia (C.Presl) Moore, 1862
Aglaomorpha quercifolia (L.) Hovenkamp & S.Linds., 2017
Họ: Dương xỉ đa túc Polypodiaceae
Bộ: Dương xỉ thật Polypodiales

 Đặc điểm nhận dạng: 
Dương xỉ lớn, sống bám trên thân cây hoặc đá. Cây cao hơn 1 mét, thân rễ bò ngang, phân nhánh và khá to, đường kính khoảng 2 cm. Rễ thân (củ) dẹt, dài, màu nâu, bên ngoài phủ nhiều vảy nhỏ hình bầu dục, có răng cưa. Mặt trên và hai bên có dấu vết cuống lá tròn, mặt dưới có nhiều rễ nhỏ, rễ non được bao phủ bởi lớp vảy màu nâu sẫm, bóng. Lá sinh trưởng có cuống dài trên 30 cm, phiến lá màu xanh mướt, dày và bóng. Phần đầu lá nhọn, gốc lá rộng và bám chặt vào cây chủ. Mép lá có răng cưa nhỏ, viền nâu nhạt. Lá sinh sản dài từ 40 – 100 cm, phiến lá dày, có màu nâu khi già. Lá có rãnh sâu dọc theo gân chính, mép lá hình lông chim. Mặt dưới lá bào tử có các cụm túi bào tử hình tròn hoặc bầu dục, sắp xếp theo từng hàng dọc theo gân lá.
Sinh học, sinh thái:
Cây thường mọc ở rìa rừng, ven đường trên các thân cây già, trong rừng mưa theo mùa hoặc trên các vách đá. Cây ưa bóng, sinh trưởng phát triển mạnh vào mùa mưa ẩm và có thể chịu được sự thay đổi nhiệt độ khá lớn. Cây có khả năng mọc chồi nhiều từ thân rễ, nên thường phát triển thành những mảng lớn, khó phân biệt từng cá thể, phủ kín một tảng đá hay cành và thân cây gỗ lớn. Cây tái sinh tự nhiên bằng bào tử, phát tán nhờ gió.
Phân bố:
Trong nước: Cần Thơ, Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Kontum, Lâm Đồng, Phú Yên, Thành phố Hồ Chí Minh..
Nước ngoài: Hầu khắp các nước Đông nam Á và Úc.
Giá trị:
Tác dụng trừ phong thấp, bổ thận, giúp xương chắc khỏe, hoạt huyết và cầm máu. Dược liệu này thường được dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh như đau nhức xương khớp do phong thấp, suy yếu gan thận, đau lưng, mỏi gối, căng cứng gân cốt, ù tai do thận hư, đau răng, tiểu nhiều, chấn thương do té ngã, gãy xương và cầm máu vết thương.
Tình trạng:
Loài này phân bố khá rộng, gặp ở một số tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ từ Phú Yên vào đến Cần Thơ. Sinh cảnh sống bị tác động, chia cắt do cháy rừng, phát nương làm rẫy. Loài này bị khai thác làm dược liệu. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm khoảng 20 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: NT A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất Bảo vệ quần thể và sinh cảnh của loài trong tự nhiên. Có thể trồng nhân tạo để bảo tồn và cung cấp nguồn dược liệu, giảm áp lực khai thác từ tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 369.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae