Tắc kè đá adler
| Tên tiếng Anh: | Adler’s gecko |
|---|---|
| Tên Latin: | Gekko adleri |
| Đồng danh: | Gekko adleri Nguyen et al., 2013 |
| Đồng danh: | Gekko adleri Nguyen et al., 2013 |
| Đồng danh: | Gekko adleri Nguyen et al., 2013 |
| Đồng danh: | Gekko adleri Nguyen et al., 2013 |
| Tên khác: | Tắc kè cao bằng |
- Độ cao so mặt nước biển 998 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Ăn các loài ấu trùng, côn trùng sống trong khu vực sống
TẮC KÈ ADLER
Gekko adleri Nguyen et al., 2013
Họ: Tắc kè Gekkonidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Dài thân 75 mm, dài đuôi 83 mm. Một vảy gian mũi, nhỏ hơn vảy trên mũi. Các vảy sau mũi nở rộng. 27 – 36 vảy gian mắt. 7 – 11 hàng nốt sần lưng. 168 – 190 vảy bụng giữa cằm và lỗ; 123 – 144 hàng vảy thân giữa. 35 – 44 hàng vảy bụng. 11 – 15 màng da dưới ngón thứ tư chân sau. Không có nốt sần ở mặt lưng của chân trước. 0 – 8 nốt sần ở chân sau. 17 – 21 lỗ trước huyệt ở con đực. Một nốt sần trước huyệt. Có nốt sần trên đuôi. Vảy dưới đuôi nở rộng. Phần trên của đầu và thân màu xám hoặc xám đen. Mặt lưng của thân có bốn hoặc năm vằn sáng hẹp.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở rừng núi đá vôi thứ sinh hỗn giao với cây gỗ cứng nhò, cây bụi và dây leo. Chúng náu mình trong hốc đá, thường thấy chúng kiếm ăn ở vách đá vôi trước cửa hang động. Thức ăn của chúng là dế, ong vò và các loài bướm đêm, nhện. Đẻ 2 trứng trong kẽ nứt của vách đá.
Phân bố
Trong nước: Loài mới phát hiện năm 2013 ở thôn Bản Coọng (22°43.666’N, 106°39.054’E, ở độ cao 588 m), xã Đức Quang, huyện Hạ Lăng, tỉnh Cao Bằng, miền Bắc Việt Nam. Loài mới được đặt tên để vinh danh Giáo sư Tiến sĩ Kraig Adler, Đại học Cornell (New York, Hoa Kỳ), nhằm ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về bò sát ở Trung Quốc và Việt Nam.
Nước ngoài: Vân Nam, Trung Quốc.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn trun jody
Tên tiếng Anh:Jodi’s pipe snake
Tên Latin:Cylindrophis jodiae
Bướm cánh bản đồ cẩm thạch
Tên tiếng Anh:Marbled map
Tên Latin:Cyrestis cocles
Quắm đầu đen
Tên tiếng Anh:Black-headed ibis
Tên Latin:Threskiornis melanocephalus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae