Sơn dương
| Tên tiếng Anh: | Southern serow |
|---|---|
| Tên Latin: | Capricornis milneedwardsii |
| Đồng danh: | Capricornis sumatraensis (Bechstein, 1799) |
| Đồng danh: | Antilope sumatraensis Bechstein, 1799 |
| Đồng danh: | Capricornis masitimus Heude, 1869 |
| Đồng danh: | Naemorhedus sumatraensis (Bechstein, 1799) |
| Tên khác: | Dê núi |
- Độ cao so mặt nước biển 2000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Campuchia Indonesia Lào Thái Lan Malaysia Ấn Độ Trung Quốc Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú móng guốc ăn các loài cây cỏ Thú kiếm ăn ban ngày
SƠN DƯƠNG
Capricornis milneedwardsii David, 1869
Capricornis sumatraensis (Bechstein, 1799)
Antilope sumatraensis Bechstein, 1799
Capricornis masitimus Heude, 1869
Naemorhedus sumatraensis (Bechstein, 1799)
Họ: Trâu bò Bovidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla
Đặc điểm nhận dạng:
Thú cỡ lớn trọng họ Trâu bò Bovidae. Con trưởng thành nặng trên 150 kg. Hình dáng gần giống Nai, trên đỉnh đầu có đám lông dài tạo thành bờm, có những chùm lông dài phủ từ tai đến góc miệng. Cả đực và cái đều có sừng ngắn không dài quá 30cm., sừng hình ống hình tròn có nhiều nếp ngang úp vào xương sừng, mút sừng nhọn cong về phía sau. Sừng không phân nhánh. Toàn thân phủ lông dầy, dài, cứng mầu xám đen hoặc xám tro. Từ trán đến vai lông rất dài tạo thành bờm. Đuôi rất ngắn.
Sinh học, sinh thái:
Sơn dương kiếm ăn ở lưng chừng núi đá và cả trên đỉnh núi. Thức ăn là cỏ, lá cây, cành cây nhỏ, mầm cây, quả cây, rêu và địa y trên vách đá. Mùa sinh sản tập trung vào tháng 3 – 4, động dục ghép đôi vào tháng 8 – 10. Thời gian có chửa 210 – 240 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Sơn dương sống ở những vùng rừng núi đá, chủ yếu là vùng núi đá vôi ở độ cao từ 50 – 2.000m so với mặt biển. Nơi ở, trú ẩn thường là hang hốc đá. Hoạt động ban ngày từ 4, 5 giờ sáng đến 4, 5 giờ chiều. Vùng hoạt động cá thể không lớn và ổn định lâu dài nên dễ bị săn bắn và bẫy bắt. Sống thành từng nhóm 3 – 4 cá thể, con già thường sống đơn độc. Kẻ thù tự nhiên của con non là thú ăn thịt cỡ lớn như Hổ Panthera tigris, Báo gấm Panthera pardus.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Sơn La (Xuân Nha), Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Cao Bằng (Trùng Khánh, Quảng Hoà, Bảo Lạc, Trà Lĩnh), Bắc Kạn (Ba Bể, Kim Hỷ), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Tuyên Quang (Na Hang), Lạng Sơn (Hữu Liên), Quảng Ninh (Yên Tử), Hải Phòng (Cát Bà), Hoà Bình (Hang Kia – Pà Cò, Ngọc Sơn – Ngổ Luông), Hà Nam (Kim Bảng), Ninh Bình (Cúc Phương, Vân Long, Hoa Lư), Thanh Hoá (Xuân Liên, Pù Hu, Pù Luông), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Vũ Quang, Hương Sơn, Rào Àn), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng, Lệ Thuỷ, Khe Nét), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăkrông), Thừa Thiên – Huế (Phong Điền, Bạch Mã, KBT Sao La), Đà Nẵng (Hoà Bắc), Quảng Nam (KBT Sao La, Ngọc Linh), Bình Định (An Toàn Khu), Kon Tum (Ngọc Linh, Chư Mom Ray), Gia Lai (Chư Prông, A Yun Pa, Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng (Cát Tiên), Bình Thuận (Tánh Linh), Ninh Thuận (Phước Bình, Núi Chúa).
Nước ngoài: Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú thích nghi với sinh cảnh rùng núi đá là đối tượng phục vụ cho du lịch sinh thái. Có giá trị nghiên cứu khoa học và nuôi làm cảnh ở công viên, vườn thú.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng trên địa bàn cả nước nhưng hiện nay rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm ở các địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 46.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm cánh bản đồ
Tên tiếng Anh:Common map
Tên Latin:Cyrestis thyodamas
Dơi nếp mũi không đuôi
Tên tiếng Anh:Asian tailless roundleaf bat
Tên Latin:Coelops frithii
Ráng gỗ gai
Tên tiếng Anh:Spiny tree fern
Tên Latin:Alsophila spinulosa
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae