TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Sói rừng

Tên tiếng Anh: Serrate-leaf chloranthus
Tên Latin: Chloranthus serratus
Đồng danh: Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, 1930
Đồng danh: Chloranthus glaber (Thunb.) Makino, 1912
Đồng danh: Ardisia glabra (Thunb.) A.DC., 1834
Đồng danh: Bladhia glabra Thunb., 1794
Tên khác: Sói rừng quả đỏ
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

SÓI RỪNG

Chloranthus serratus (Thunb.) Roem. & Schult., (1818)
Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, 1930
Chloranthus glaber (Thunb.) Makino, 1912
Ardisia glabra (Thunb.) A.DC., 1834
Bladhia glabra Thunb., 1794
Họ: Hoa sói Chloranthaceae
Bộ: Hoa sói Chloranthales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây nhỏ cao 1 – 2 m; nhánh tròn, không lông, mọc đối. Lá mọc đối, có phiến dài xoan bầu dục, dài 7 – 18 cm, rộng 2 – 7cm, đầu nhọn, mép có răng nhọn, gân phụ 5 cặp; cuống ngắn 5 – 8 mm. Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn; hoa nhỏ, màu trắng, không cuống; nhị 1. Quả nhỏ, đỏ gạch, mọng, gần tròn 6 x 4 mm.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc hoang ở vùng núi đất, ở bìa rừng và ven đồi ẩm nhiều nơi; Cũng được trồng để lấy hoa ướp trà. Cây ưa bóng, ưa đất ẩm, nhiều mùn, tái sinh hạt tốt hơn tái sinh chồi. Hoa tháng 6 – 7, quả tháng 8 – 9.
Phân bố:
Trong nước: Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Hà Tây đến Kontum, Lâm Ðồng.
Nước ngoài: Bangladesh, Borneo, Campuchia, Trung Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Jawa, Hàn Quốc, Lào, Đảo Sunda Nhỏ, Malaya, Myanmar, Nansei-shoto, New Guinea, Philippines, Sri Lanka, Sumatera, Đài Loan, Thái Lan.
Công dụng:
Sói rừng đã được nghiên cứu và chứng minh có nhiều tác dụng dược lý như kháng viêm, kháng khuẩn, kháng virus, kháng khối u, chống oxy hóa và chống giảm tiểu cầu. Là nguồn tài nguyên quý giá của nhiều hợp chất hóa học với hơn 200 chất đã được phân lập, bao gồm sesquiterpenes, flavonoids, coumarins, axit phenolic, lignans, anthraquinones và steroid. Trong số đó, Flavonoid được xem là thành phần quan trọng nhất trong cây về hoạt tính sinh học, đặc biệt liên quan đến khả năng chống giảm tiểu cầu của cây. Thu hái toàn cây vào mùa hạ thu, dùng tươi hay phơi khô trong râm. Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi trong râm, cũng có thể dùng tươi.

Mô tả loài: Trần Hợp, Phùng Mỹ Trung, Phạm Văn Thế – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae