TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Sóc vằn lưng

Tên tiếng Anh: Berdmore's ground squirrel
Tên Latin: Menetes berdmorei
Đồng danh: Menetes berdmorei berdmorei (Blyth, 1849)
Đồng danh: Menetes berdmorei consularis Thomas, 1914
Đồng danh: Menetes berdmorei berdmorei (Blyth, 1849)
Đồng danh: Menetes berdmorei consularis Thomas, 1914
Tên khác: Sóc đất berdmore
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

SÓC VẰN L­ƯNG

Menetes berdmorei (Blyth, 1849)
Menetes berdmorei berdmorei (Blyth, 1849)
Menetes berdmorei consularis Thomas, 1914
Họ: Sóc cây Sciuridae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia

Đặc điểm nhận dạng:
Dài thân 184 mm, dài đuôi 140 mm, dài bàn chân sau 40mm, cao tai 16 – 22 mm. Trọng lượng 130 – 245 gam, dài sọ 48.2 mm, rộng gò má 24 – 28 mm. Sóc vằn lưng cỡ trung bình trong họ Sóc cây Sciuridae, mũi dài, không có lông trên tai. Có hai sọc hai bên sườn nhưng màu lông thay đỗi theo vùng địa lý và lượng mưa. Vùng có lượng mưa cao, chúng có một sọc đen giữa lưng và một sọc đen nằm giữa sọc trắng. Vùng khô, ít mưa sóc vằn lưng có màu nâu, chỉ có sọc bên màu trắng, Đuôi thường ngắn thua chiều dài đầu và thân
Sinh học, sinh thái
Loài sóc này kiếm ăn trên mặt đất trong các khu rừng và dọc theo các bìa rừng và cả rừng khộp. Chúng thường phát ra các tiếng kêu lớn vào buổi sáng. Đôi khi loài này cũng thường hay kiếm ăn ở các khu vực canh tác. Sống ở độ cao từ 100 m lên tới 1.200 m. Mặc dù loài này dành phần lớn thời gian của mình trên mặt đất, đôi khi nó có thể được nhìn thấy chạy dọc theo lan can hoặc lên và xuống dốc hoặc tre bị hỏng, nhưng không bao giờ xa mặt đất.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Gia Lai, Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên, Vĩnh Cửu, Tân Phú) Lâm Đồng, Đắc Lắc (Vườn quốc gia Yok Đôn)
Nước ngoài: Trung Quốc, Laos, Myanmar, Thái Lan, Cambodia.
Giá trị:
Loài hiếm có ý nghĩa khoa học. Màu sắc đẹp nhiều người ưa thích nên bị săn bắt nhiều để nuôi cảnh. Có thể thu một số cá thể để nuôi trong vườn thú làm giáo cụ học tập cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng ở các tỉnh miền Bắc, Trung, Nam. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng để làm đất canh tác nông nghiệp; loài này thường xuyên bị bắt làm vật nuôi cảnh ở các địa phương; kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 15 năm trở lại đây.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động săn bắt và buôn bán.

Mô tả loài: Nguyễn Trường Sơn – Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae