Sóc đen
| Tên tiếng Anh: | Black giant squirrel |
|---|---|
| Tên Latin: | Ratufa bicolor |
| Đồng danh: | Sciurus bicolor Sparrmann, 1778 |
| Đồng danh: | Ratufa melanopela Kloss, 1921 |
| Đồng danh: | Sciurus bicolor Sparrmann, 1778 |
| Đồng danh: | Ratufa melanopela Kloss, 1921 |
| Tên khác: | Sóc đen hai màu |
- Độ cao so mặt nước biển 2500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Bà Rịa - Vũng Tàu Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Vườn Quốc gia Côn Đảo, Việt Nam Hầu hắp các vùng châu Á Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng thường xanh núi cao Rừng trên các đảo trên biển
SÓC ĐEN
Ratufa bicolor (Sparrmann, 1778)
Sciurus bicolor Sparrmann, 1778
Ratufa melanopela Kloss, 1921
Họ: Sóc cây Sciuridae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia
Đặc điểm nhận dạng:
Sóc cỡ lớn. Gốc mũi, đầu, cổ, lưng đến gốc đuôi màu đen hoặc đen – xám. Phần ngoài chi sau, mu bàn chân, hai bên thân đồng mầu với lưng. Mặt bụng: từ nách chi trước, bụng đến hậu môn, phần trong của chi sau màu vàng nhạt hay vàng đất thó. Mặt ngoài vành tai có túm lông màu đen, mặt trong tai trần. Phần trên mắt màu đen, phần dưới mắt đến má màu vàng sáng, hai bên lỗ mũi và môi màu trắng nhạt. Đuôi dài hơn thân, có lông xù, từ gốc đuôi lông màu đen, ở mút đuôi có túm lông dài, cứng và màu đen.
Việt Nam có 3 phân loài: Sóc đen côn đảo – Ratufa bicolor condorensis Kloss, 1922; Sóc đen thẫm – Ratufa bicolor gigantea Thomas, 1923; Sóc đen nâu – Ratufa bicolor smithi Robinson et Kloss, 1923. Màu sắc của 3 phân loài Sóc đen khác nhau như sau:
Sóc đen côn đảo – Ratufa bicolor condorensis: Có màu vàng lan tới cánh tay, có vết đỏ hoe sau gáy;
Sóc đen thẫm – Ratufa bicolor gigantea: Không có những đặc điểm như Sóc đen côn đảo, lưng hoàn toàn đen thẫm;
Sóc nâu đen – Ratufa bicolor smithi: Lưng màu vàng – đen da bò.
Sinh học, sinh thái:
Sống trên cây, thích trên cây gỗ cao trong các khu rừng sâu trên núi đất có nhiều cây quả, núi đá, rừng già, rừng thứ sinh, rừng tre, nứa có cây gỗ cao hoặc dọc bờ sông, suối. Sóc đen ăn thực vật: quả, chồi, hạt, lá cây (dẻ, sấu, trám trắng, trám đen, bứa, sung, vả, si, đa, ngô, vải, nhãn, chuối…). Thức ăn động vật có một số loài côn trùng, kiến, mối, đôi khi cả trứng chim.. Sóc đen hoạt động vào ban ngày và chủ yếu trên cây. Khi kiếm ăn sóc thường phát ra tiếng kêu “túc…túc…” nên rất dễ phát hiện và bị săn bắn nhiều. Sóc sống đơn độc, ghép đôi trong thời kỳ động dục. Sóc làm tổ trên cành cây cao bằng cành cây nhỏ và lót lá khô mềm. Sóc đen đẻ mỗi năm 2 lần: xuân – hè (tháng 3 – 4) và thu – đông (tháng 10 – 11). Mỗi lứa đẻ 2 đến 3 con, chủ yếu 2 con.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang (Bắc Quang, Tây Côn Lĩnh, Khau Ca), Cao Bằng (Bảo Lạc, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Phia Đén-Phia Oắc), Lai Châu (Tuần Giáo), Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Chợ Đồn, Ba Bể), Lạng Sơn (Bình Gia, Chi Lăng, Hữu Liên), Yên Bái (Phú Yên), Sơn La (Quỳnh Nhai, Copia, Xuân Nha, Tà Xùa), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thái Nguyên (Thần Sa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Quảng Ninh (Hoành Bồ, Bái Tử Long), Hải Phòng (Cát Bà), Thanh Hóa (Lang Chánh, Xuân Liên, Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hóa, Đắk Rông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã, KBT Sao La), Quảng Nam (Ngọc Linh, KBT Sao La), Kon Tum (Ngọc Linh, Sa Thầy), Gia Lai (Krông Pa, Kon Chư Rưng, Kon Ka Kinh, Chư Prông, A Yun Pa), Đắk Lắk (Chư Yang Sin), Đắk Nông (Tà Đùng,Nam Nung), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà, Di Linh), Bình Thuận (Tánh Linh), Đồng Nai (Cát Tiên), Tây Ninh (Lò Gò – Sa Mát), Kiên Giang (Phú Quốc), Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Phân loài Sóc đen côn đảo là loài đặc hữu của Côn Đảo, Việt Nam. Có giá trị khoa học, thẩm mỹ và có thể nuôi làm cảnh ở vườn thú.
Tình trạng:
Loài có vùng phân bố rộng, thường gặp ở những khu rừng với nhiều cây gỗ lớn có nguồn thức ăn phù hợp; diện tích vùng phân bố bị thu hẹp, sinh cảnh sống bị suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản; loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm ở các địa phương; kích thước quần thể ước tính đã suy giảm > 30% trong vòng 25 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIB Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiện cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên, quản lý chặt chẽ các hoạt động săn bắt, buôn bán trái phép, có biện pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ động vật hoang dã.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 38.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm hề vạch thẳng
Tên tiếng Anh:straight pierrot
Tên Latin:Caleta roxus
Bướm mũ quan tòa
Tên tiếng Anh:Club beak
Tên Latin:Libythea myrrha
Ếch gáy dô
Tên tiếng Anh:Annam wart frog
Tên Latin:Limnonectes dabanus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae