TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Sóc bay trâu

Tên tiếng Anh: Red giant flying squirrel
Tên Latin: Petaurista petaurista
Đồng danh: Petaurista petaurista (Pallas, 1766)
Đồng danh: Sciurus petaurista Pallas, 1766
Đồng danh: Pteromys yunanensis, Anderson, 1875
Đồng danh: Petaurista philippensis (Elliot, 1839)
Tên khác: Sóc bay đỏ lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

SÓC BAY TRÂU

Petaurista philippensis (Elliot, 1839)
Petaurista petaurista (Pallas, 1766)
Sciurus petaurista Pallas, 1766
Pteromys philippensis Elliot, 1839
Pteromys yunanensis, Anderson, 1875
Họ: Sóc Sciuridae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia

Đặc điểm nhận dạng:
Sóc bay cỡ lớn nhất trong các loài sóc bay thuộc giống Petaurista. Màng da hai bên sườn nối liền cổ, chi trước, chi sau và gốc đuôi. Bộ lông dầy, mềm. Lông ở đầu, lưng, đuôi và mặt trên của màng da có gốc xám thẫm, một phần ba phần đầu mút lông nâu hung tạo nên nền mầu của lưng có mầu nâu hung, đầu mút lông phớt trắng làm cho lưng có mầu nâu hung lốm đốm trắng. Mặt có nhiều đốm trắng. Cằm xám đến nâu sáng. Bụng, mắt dưới màng da nâu hung nhạt. Bàn chân màu đen. Đuôi tròn, xù và dài hơn dài thân.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong rừng già nhiều cây gỗ lớn và có quả trên núi đá, núi đất. Làm tổ trong các bọng cây to, cao giữa tán lá cành rậm rạp. Sóc sống đơn độc, chỉ ghép đôi vào mùa động dục. Tuy vậy, có thể gặp 3 – 4 sóc cùng ăn trên một cây. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, di chuyển chậm dọc theo các cành cây; chúng có thể dương màng da bay lượn từ cây này sang cây khác với khoảng cách khá xa. Sóc bay trâu ăn quả, hạt (dẻ rừng, sấu, sung, vả, si, đa, trám trắng, trám đen), chồi non, lá cây non. Đẻ mỗi năm hai lứa vào tháng 4 – 5 và tháng 8 – 9. Mỗi lứa đẻ 1 – 2 con hoặc 3 – 4 con. Con non được nuôi trong tổ cho đến khi sống tự lập.
Phân bố:
Trong nước: Từ Bắc vào Nam, nơi các khu vực rừng còn được bảo vệ tốt.
Nước ngoài: Pakistan, Apganistan, Ấn Độ, Srilanka, Nepal, Myanmar, Malaysia, Thái Lan, Nam Trung Quốc, Lào, Cambodia.
Giá trị:
Loài thú kỳ lạ, hiếm của rừng nhiệt đới, được quan tâm, bảo vệ. Có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Có khả năng lượn trong rừng cây để di chuyển và kiếm ăn ban đêm. Là mẫu vật sống độc đáo để giúp sinh viên, học sinh nghiên cứu và học tập về tập tính sinh thái loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng khắp cả nước, tuy nhiên khá hiếm gặp ngoài tự nhiên; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản; loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, trang trí và buôn bán; kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 15 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động săn bắt và buôn bán loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 43.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae