TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Trường Sơn

Sóc bay bé

Tên tiếng Anh: Red-cheeked flying squirrel
Tên Latin: Hylopetes spadiceus
Đồng danh: Sciurus everetti Thomas, 1890
Đồng danh: Sciurus everetti Thomas, 1890
Đồng danh: Sciurus everetti Thomas, 1890
Đồng danh: Sciurus everetti Thomas, 1890
Tên khác: Sóc bay má đỏ
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

SÓC BAY BÉ

Hylopetes spadiceus (Blyth, 1847)
Sciurus everetti Thomas, 1890
Họ: Sóc Sciuridae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia

Đặc điểm nhận dạng:
Dài đầu và dài thân 15,7 – 18,4 cm, dài đuôi 15,2 – 16,6 cm, dài bàn chân 29 – 35 mm (11 mẫu). Trọng lượng 80 – 157 gram. Hộp sọ dài 31,4 – 36,4 mm, ngang hốc mắt 7,8 – 8,7 mm, dài hàng răng hàm trên 6,8 – 7,6 mm (5 mẫu). Phần thân trên có màu đen nhạt hoặc màu nâu xám đậm, với những vết màu gỉ sét, đặc biệt ở đường kẻ giữa; phần thân dưới màu trắng, phần chân lông màu xám với sắc cam nhẹ. Màng cánh có rìa, mỏng màu trắng, Đuôi màu sậm, nâu cam nhạt với phần dưới lông màu da bò; chân lông có màu cam rõ rệt. Má màu nâu cam.
Sinh học, sinh thái:
Loài ăn đêm, sống trong tổ có bề rộng khoảng 32 cm, làm tổ ở những khu rừng với nhiều cây gỗ lớn, thường làm tổ cách mặt đất từ 0,3 – 3,3 m trên thân cây với đường kính tổ khoảng 320 mm. Kiếm ăn chủ yếu trong rừng cây gỗ lớn và rừng tái sinh.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Ngọc Linh, Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Yok Đôn), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo), Kiên Giang (Phú Quốc, U Minh Thượng, Kiên Lương).
Nước ngoài: Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei.
Phân hạng: EN A2cd.
Giá trị:
Loài thú kỳ lạ, hiếm của rừng nhiệt đới, được quan tâm, bảo vệ. Có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Có khả năng lượn trong rừng cây để di chuyển và kiếm ăn ban đêm. Là mẫu vật sống độc đáo để giúp sinh viên, học sinh nghiên cứu và học tập về tập tính sinh thái loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Sóc bay bé phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp, phát triển du lịch và khai thác lâm sản; loài này cũng bị săn bắt làm thực phẩm và buôn bán; kích thước quần thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 10 năm qua.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động săn bắt và buôn bán loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 79.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae