TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Đỗ Văn Tư

Sam đuôi tam giác

Tên tiếng Anh: Chinese horseshoe crab
Tên Latin: Tachypleus tridentatus
Đồng danh: Limulus tridentatus Leach, 1819
Đồng danh: Limulus tridentatus Leach, 1819
Đồng danh: Limulus tridentatus Leach, 1819
Đồng danh: Limulus tridentatus Leach, 1819
Tên khác: Cua móng ngựa

SAM BA GAI ĐUÔI

Tachypleus tridentatus (Leach, 1819)
Limulus tridentatus Leach, 1819
Họ: Sam Limulidae
Bộ: Đuôi kiếm Xiphosurida

Đặc điểm nhận dạng:
Sam cái có chiều dài trung bình 300 mm – 4000 mm và Sam đực có chiều dài trung bình 250 mm – 300 mm (không kể đuôi). Vỏ đầu ngực có dạng gáo hình móng ngựa, mép trước tròn dạng vòng cung, ở con đực hơi bị lõm vào ở đọan giữa, góc bên phía sau kéo dài đến nửa chiều dài bụng. Bụng không phân đốt; 2 mép bên xiên và mỗi bên mang 6 gai dài gần bằng nhau cử động được và 6 gai nhỏ cố định, xếp xen kẽ nhau; trên mép sau chỗ nối với đuôi có 3 gai nhỏ – đây là đặc điểm để phân biệt với loài T. gigas (chỉ 1 có gai). Đuôi hình kiếm dài, tiết diện cắt ngang hình tam giác.
Sinh học, sinh thái:
Sam sống trong môi trường đáy cát pha bùn, thường sống vùi, di chuyển bằng cách bò trên nền đáy. Thức ăn của Sam chủ yếu là sinh vật đáy. Giới tính của Sam chỉ có thể phân biệt sau 3 năm tuổi. Vào khoảng tháng 3 – 4 đến tháng 9 – 10, Sam đực và Sam cái thường tập trung ở các bãi triều cát trong các vịnh hay cửa sông để giao phối và đẻ trứng. Sam thường đẻ trứng trên những bãi cát nóng và trứng được chôn sâu khoảng 20cm, khi Sam cái đẻ vào ổ thì Sam đực có nhiệm vụ thụ tinh cho trứng. Trứng Sam có vỏ dày bao bọc và có đường kính lớn nhất là 4,01mm, thường từ 25mm đến 3,5mm. Sau 6 – 8 ngày ấu trùng Sam lột xác biến thành Sam con giai đoạn đầu tiên, chúng có hình dạng giống Sam trưởng thành trừ chiều dài đuôi.
Phân bố:
Trong nước: Rất phổ biến ở biển Việt Nam, tập trung nhất ở các tỉnh ven biển miền Trung.
Nước ngoài: Vùng Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương: từ Biến Đỏ và Đông Phi đến Nhật Bản. Quần đảo Solomon, Australia.
Giá trị:
Ngoài ý nghĩa khoa học là hóa thạch sống của kỷ Ordovician, các loài Sam nói chung và Sam ba gai đuôi T. tridentatus – nói riêng, còn có giá trị về dược học. Đã phát hiện trong máu Sam có chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao, có khả năng phát hiện độc tố endotoxin của vi khuẩn gram âm rất nhạy, vì vậy được sử dụng làm chất thử thuốc trong sản xuất dược phẩm.
Tình trạng:
Loài này phân bố rải rác ở vùng ven biển Việt Nam, tập trung củ yếu ven biển miền Trung. Nơi cứ trú, bãi giống, bãi đẻ của loài này bị thu hẹp và suy thoái do các hoạt động nuôi trồng hải sản ven bờ và ô nhiễm môi trường. Loài sam này bị khai thác cạn kiệt làm thực phẩm, đồ trang trí và xuất khẩu. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 70% trong 30 năm qua.
Phân hạng: EN A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Nghiên cứu về hiện trạng của loài (kích thước quần thể, phân bố, xu thế, các mối đe dọa, các yêu cầu về sinh thái). Giảm cường độ khai thác, không khai thác vào mùa sinh sản. Hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài..

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 55

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae