TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Sa mu

Tên tiếng Anh: Chinese fir
Tên Latin: Cunninghamia lanceolata
Đồng danh: Larix chinensis Mill. in Gard., 1768
Đồng danh: Pinus abies Lour., 1790
Đồng danh: Pinus chinensis (Mill.) Münchh., 1770
Đồng danh: Oreocharis rubrostriata F.Wen & L.E Yang, 2019
Tên khác: Thông đá
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

SA MU

Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook., 1827
Larix chinensis Mill. in Gard., 1768
Pinus abies Lour., 1790
Pinus chinensis (Mill.) Münchh., 1770
Oreocharis rubrostriata F.Wen & L.E Yang, 2019
Họ: Hoàng đàn Cupressaceae
Bộ: Thông Pinales

Đặc điểm nhận dạng:
Sa mu là loài cây gỗ lớn, thường xanh, cao tới 40 – 45 m, đường kính ngang ngực đạt tới 70 – 120 cm, thân thẳng, hình trụ, phân cành cao trên 20 m. Vỏ nâu đen, thường tách ra từng mảnh. Cành con phân ngang tạo thành nhiều tầng. Tán cây hình tháp, dày, màu sẫm. Lá màu xanh, nhọn, mọc trên mặt phẳng, xếp xoắn, dài 4 – 5 cm, rộng 0,2 – 0,3 cm, cứng, đầu lá nhọn, mép có răng cưa. Mặt trên xanh bóng, mặt dưới mốc hai bên gân chính. Nón đơn tính hình trứng, vảy có râu ở đỉnh. Nón đực mọc tập trung 15-20 chiếc thành bông ở đầu cành. Nón cái dạng trứng, dài 3 – 4 cm, rộng 3 cm, mọc ở thấp hơn nón đực, đơn độc. Hạt dạng trái xoan, có cánh, dài 5 – 7 mm, rộng 3 – 5 mm.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc trong các khu rừng thường xanh ở độ cao trên 1.000m và thường mọc ở chân núi, ven khe suối, ven các khe ẩm, ưa đất sâu mát hoặc đất có lẫn đá. Sinh trưởng nhanh, tái sinh chồi rất tốt. Hoa tháng 2 – 3.
Phân bố:
Trong nước: Loài từ lâu được coi là loài bản địa của Việt Nam vì đã được nhập trồng thành công ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, ở các vùng núi có độ cao trên 700 m như  Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Lạng Sơn và rất thích hợp cho việc trồng cảnh quan trong các thành phố, khu nghỉ mát như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Ba Vì.
Nước ngoài: Loài cây này cũng đã được trồng rất thành công ở Nam Trung Quốc và phân bố tự nhiên ở miền Trung và Nam Trung Quốc, Đài Loan, Bắc Lào, Cambodia và Hàn Quốc.
Công dụng:
Gỗ vàng nhạt hay trắng, xốp nhưng cứng, chịu mối mọt. Được dùng để làm nhà, sàn nhà, công cụ và đồ gia dụng. Sa mu được trồng từ lâu tại Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) như loài cây trồng cảnh quan. Do có dáng đẹp, thân cây to, thẳng nên rất được ưa chuộng. Sa mu dễ trồng, không bi trâu bò phá hoại nên trồng rừng có nhiều thuận lợi và là loài có khả năng tái sinh chồi rất tốt.

Tài liệu tham khảo: Cây gỗ kinh tế – Trần Hợp, Nguyễn Bội Quỳnh – trang 206.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae