TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rùa răng

Tên tiếng Anh: Yellow-headed temple turtle
Tên Latin: Heosemys annandalii
Đồng danh: Cyclemys annandalii Boulenger, 1903
Đồng danh: Hieremys annandalei Smith, 1916
Đồng danh: Cyclemys annandalii Boulenger, 1903
Đồng danh: Hieremys annandalei Smith, 1916
Tên khác: Rùa đền đầu vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA RĂNG

Heosemys annandalii (Boulenger, 1903)
Cyclemys annandalii Boulenger, 1903
Hieremys annandalei Smith, 1916
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rùa nước ngọt có kích thước lớn nhất ở Việt Nam. Chiều dài mai tới 470mm. Rùa răng có mỏ làm thành 2 mấu nhọn hình răng ở hàm trên. Mai phồng, thuôn dài, bờ sau mai không có răng cưa. Bờ trước yếm lồi, bờ sau yếm khuyết, bờ bên phần sau yếm thẳng. Chân dẹp, ngón chân có màng da. Mai màu nâu thẫm hay đen. Đầu xám có những vết đốm đen và vàng, hàm màu vàng.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống ở kênh rạch, ao hồ, đầm lầy, kể cả ruộng lúa nước nơi có dòng chảy chậm. Khi bị trêu chọc, rùa thường phản ứng bằng cách khoe mỏ hình răng để dọa. Rùa ăn thực vật thủy sinh; trong điều kiện nuôi còn ăn quả và các loại rau. Rùa đẻ trứng vào tháng 12 – 1 năm sau. Mỗi lứa đẻ 4 trứng có vỏ vôi, kích thước: 36 – 38/57 – 62mm. Giới tính con non nở ra hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường tự nhiên.
Phân bố:
Trong nước: Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Kiên Giang, Cà Mau (Vườn quốc gia Mũi Cà Mau).
Nước ngoài: Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở nơi vui chơi, giải trí (vườn động vật).
Tình trạng:
Số lượng giảm sút nhiều trên 50% do săn bắt, buôn bán và chất lượng nơi cư trú suy giảm. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do thu hẹp diện tích đất ngập nước, ô nhiễm nguồn nước; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt phục vụ buôn bán, làm thực phẩm, dược liệu và làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính hơn 80% trong khoảng 100 năm qua
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài này nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 64/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đã có một số trại nuôi sinh sản vì mục đích thương mại ở miền Nam. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động xâm lấn đất ngập nước. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Tiến hành cứu hộ, nhân nuôi sinh sản phục vụ mục đích phục hồi quần thể.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 256.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae